Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2019

SỰ ĐÁNH TRÁO LỊCH SỬ VỀ TÍNH CHÍNH DANH VNCH
CỦA PHE THẮNG CUỘC

Xã hội lúc nào cũng không ngừng phát triển để đi lên, và đào thải các tạp chất như: chậm tiến, lạc hậu, phi dân chủ - tự do... gọi đó là tạp chất vì nó làm cho người dân sống trong xã hội không có hạnh phúc, người dân hàng ngày phải sống trong sự bất công của hệ thống tư pháp do độc tài lập ra để bảo vệ quyền lực của nhóm lợi ích. Dân luôn sống trong nổi sợ hải đầy bất công với  bộ máy kềm kẹp của giai cấp cai trị. VN ngày nay trong chế độ độc tài độc đảng do người cs lãnh đạo đã kềm hãm sức phát triển của con người và là hòn đá cản đường trong tiến trình thăng hoa của xã hội VN. Muốn đất nước thăng hoa, người dân cần phải dọn dẹp các hòn đá cản đường, để VN sớm có dân chủ theo đúng theo nguyện vọng của toàn thể người dân trong và ngoài nước.

Để cố gắng duy trì chế độ kém văn minh nên đảng đã ra sức lý luận nghịch chiều, đổi trăng thay đen chính danh của VNCH. Đám lãnh đạo Ba Đình không ngớt tuyên truyền bôi nhọ chính thể VNCH và chính nghĩa của nó.

Là con dân nước VNCH cũng như các quân, cán, chính đã từng cộng tác với chế độ VNCH, chúng ta phải luôn tự hào vì đã từng được phục vụ trong một chế độ hết sức văn minh với nền dân chủ đa đảng sáng ngời chính nghĩa. Một thứ văn minh mà người dân miền bắc chưa bao giờ có được và đó cũng là mục tiêu đấu tranh của các nhà dân chủ yêu nước đang lần bước trên con đường dân chủ hoá đất nước.

Trở về trang sử cũ, nhiều thập niên qua đảng và bộ máy tuyên truyền của đảng luôn đề cập tới tính chính danh của VNDCCH do hồ chí minh thành lập và thường xuyên tạc chính quyền VNCH là chính quyền không chính danh, bất hợp pháp theo lý luận của các trí tuệ Ba Đình để mị dân. Tuy nhiên tất cã sự thật về VNCH hoàn toàn ngược lại 180 độ với những gì mà cs đã tuyên truyền.

Trích phần tuyên truyền láo khoét về tính chính danh của VNCH của bộ máy đầu độc quần chúng mà ban tuyên giáo đã giao trách nhiệm cho 800 mủi nhọn xung kích gia nô trên mặt trận truyền thông lề phải - là phải làm sao quần chúng phải nhận thức thật sai lạc về chính thể VNCH và tính chính danh của nó như sau:

VNCH là một Chính quyền bất hợp pháp ?

Có thể nói, ngay từ đầu, chính thể “Việt Nam Cộng hòa” đã không có một cơ sở pháp lý vững vàng nào. Mãi tới tận năm 1955 nó mới ra đời và ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía nam của Việt Nam như một “sáng tạo” thuần túy của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phản ánh lợi ích riêng của họ (thị trường Đông Nam Á, gia tăng ảnh hưởng ở vị trí chiến lược, ngăn chặn làn sóng xã hội chủ nghĩa…).

Trong khi đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945 sau cuộc Cách mạng tháng Tám của muôn triệu con dân đất Việt trước khi bất kỳ một lực lượng quân Đồng minh nào vào giải giáp quân Nhật. Ngay trong năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo đồng bào và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua – hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ mới khai sinh. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành những sắc lệnh, những văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam. Hết trích!!
Xem nguồn:https://vov.vn/blog/chinh-nghia-khong-thuoc-ve-che-do-viet-nam-cong-hoa-396862.vov
Chính danh trong chính trị là gì? 

Chính danh trong chính trị, là niềm tin và sự đồng thuận bằng lá phiếu trong một cuộc bầu cử tự do của người dân dành cho một cá nhân, liên danh hay một đảng phái để uỷ thác trách nhiệm lãnh đạo quốc gia. Nên nhớ là quốc dân chọn lựa chứ không phải do quốc hội bù nhìn mà đảng cs dựng lên để làm bình phong cho độc tài.

Một người bước ra lãnh đạo vận mệnh đất nước phải có được sự đồng thuận của người dân, thì người dân mới hết lòng phục tùng chính quyền ấy và người lãnh đạo mới thực sự có được quyền lực tối cao để điều hành quốc gia. Được quốc dân uỷ nhiệm bằng lá phiếu về vị trí lãnh đạo là hình thức hoàn hảo nhất trong một chế độ dân chủ văn minh do dân và vì dân. Chỉ có đảng cướp hay tướng cướp mới không cần tính chính danh khi cướp được chính quyền vào tay mình, điều này đã từng xảy ra ở VN vào năm 1945 và 1975 mà đảng csVN đã từng thực hiện.

Chính danh còn được coi là một hình thức xác lập vị trí, thế đứng của mình trước quần chúng và cộng đồng thế giới. Nói theo cách nói của người xưa là: vua ra vua, thầy ra thầy, trò ra trò, vợ ra vợ, chồng ra chồng.....mổi người có một vị trí trong gia đình và trong xã hội mình đang sinh sống.

Một tổ chức chính trị có được tính chính danh sẽ trở thành đảng nắm quyền hợp pháp, hợp hiến, thuận với lòng dân, cần phải đạt được những điểm căn bản sau.
1. Trong chế độ quân chủ phải mang tính truyền thống của cha truyền con nối. 
2. Vị thế cho một người hay một đảng lãnh đạo trong thời điểm hiện nay là cần phải có thực tài và được đại đa số dân chúng tín nhiệm bằng lá phiếu.  
3. Phải được bè bạn quốc tế công nhận và đặt quan hệ ngoại giao.
Những điều căn bản ắt có và đũ để có được tính chính danh cho một thể chế chính trị phù hợp với trào lưu văn minh của cộng động nhân loại. VNDCCH trong thời gian từ tháng 8/1945 đến cuối năm 1949 đã không đạt được những tiêu chuẩn này, nên không chính danh và 100% cộng đồng thế giới xa lánh. Có thể nói VNDCCH do hcm thành lập không đạt được một tiêu chuẩn nào về chính trị của thế giới văn minh vào hậu bán thế kỷ 20 kéo dài đến ngày hôm nay. 

THỰC THỂ CỦA CHÍNH QUYỀN VNCH 

Ban tuyên giáo/TW/đảng csVN từng rêu rao là chính thể VNCH không chính danh khi lãnh đạo bộ máy điều hành phần đất dưới vĩ tuyến 17 là tay sai của Mỹ. Thế nhưng sự thật đều trái ngược với sự tuyên truyền của cs Bắc Việt.

Từ những chứng liệu lịch sử, chúng tôi có thể chứng minh tính chính danh của VNCH khi bắt đầu được thành lập từ 1955 cho đến ngày 30.4.1975, và hoàn toàn không phải là tay sai cho Mỹ.

VNCH dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Ngô Đình Diệm, người lãnh đạo đòng thời là người sáng lập nước VNCH qua sự chọn lựa của người dân miền nam VN. Và ngay từ khi thành lập nền đệ nhất cộng hoà. Tổng thống Diệm đã từ chối ngay tất cả nguyện vọng từ phía Hoa Kỳ, thế nên Mỹ và một số phản tướng mới cấu kết để tìm cách làm cuộc đảo chính ngày 1.11.1963 và giết ông vào ngày 2.11.1963. Việc Mỹ giết ông Diệm vì ông Diệm không phải là tay sai như VC đã tuyên truyền.
Trên cương vị một lãnh tụ và trong suốt nhiệm kỳ của tổng thống Ngô Đình Diệm, ông đã cương quyết không chấp nhận bốn yêu sách của chính quyền Hoa Kỳ qua Đại Sứ Henry Cabot Lodge bắn tiếng thăm dò như sau:

1. T.Th. Ngô Đình Diệm nhường hải cảng Cam Ranh cho Hoa Kỳ 99 năm
2. T.Th. Ngô Đình Diệm chấp thuận cho Hoa Kỳ đưa 200.000 quân vào Nam Việt Nam.
3.T.Th. Ngô Đình Diệm đặt Bộ Quốc Phòng VNCH dưới quyền chỉ huy của Quân Đội Hoa Kỳ.
4.T.Th. Ngô Đình Diệm phải đưa ông cố vấn Ngô Đình Nhu ra nước ngoài.

Tổng thống Ngô Đình Diệm được dân miền nam VN tín nhiệm bằng lá phiếu trong một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào tháng 4 /1955. Người lãnh đạo quốc gia miền nam VN được dân chọn lựa thay cho quốc trưởng Bảo Đại.
I/Tổng Thống Ngô Đinh Diệm  chính thức được công nhận là lãnh đạo miền nam VN qua một cuộc tổng tuyển cử công bằng dưới sự chứng kiến của báo chí quốc tế và LHQ vào ngày 30 tháng 4 năm 1955, với số phiếu bầu là 5.721.735 phiếu. Ngoài ra Ông Ngô Đình Diệm còn nhận được sự hậu thuẫn của nhân dân và nhiều đoàn thể chính trị quốc gia như Việt Nam Dân Xã Đảng của Nguyễn Bảo Toàn, Việt Nam Phục quốc Hội của Hồ Hán Sơn và Hội đồng Nhân dân Cách mạng Quốc gia của Nhị Lang.  VNCH được thành lập với một chế độ"Tam Quyền Phân Lập"
II/Sau khi thành lập xong nền đệ nhất cộng hoà. Về mặt ngoại giao,  tính tới cuối năm 1955, trong vòng 2 tháng sau khi lập quốc, VNCH đã nhận được tất cã là 35 nước trên thế giới công nhận, danh sách đính kèm dưới đây:
1. Hoa Kỳ 26.10.1955
2. Pháp -
3. Vương quốc Anh -
4. Úc -
5. New Zealand -
6. Thái Lan -
7. Nhật Bản -
8. Ý -
9. Trung Hoa Dân Quốc 27.10.1955
10. Nam Hàn 
11. Hoà Lan 1.11.1955
12. Philippines 2.11.1955
13. Tây Ban Nha 3.11.1955
14. Cuba -
15. Haiti -
16. Bolivia 6.11.1955
17. Ecuador -
18. Brazil 8.11.1955
19. Liberia -
20. Nicaragua -
21. Chile 10.11.1955
22. Hy Lạp -
23. Luxembourg 11.11.1955
24. Argentina 12.11.1955
25. Costa Rica 13.11.1955
26. Canada 14.11.1955
27. Lào 15.11.1955
28. Thổ Nhĩ Kỳ 18.11.1955
29. Bỉ 22.11.1955
30. Áo 23 11.1955.
31. Tây Đức 5.12.1955
32. Vatican 9.12.1955
33. Liên minh Nam Phi 14.12.1955
34. Honduras 12.12.1955
35. Venezuela 15.12.1955
36. Guatemala -
37. Colombia 6.1.1956
38. Sudan 5.2.1956
39. Jordan 21.2.1956
40. Bồ Đào Nha 24.5.1955
41. Đan Mạch 3.1.1957
42. Lebanon 5.3.1957
43*. Ghana 6.3.1957
44*. Ma-rốc 18.6.195
45*. Tunisia 3.8.1957
46*. Malaysia 31.8.1957
47. Thụy Sĩ 1.4.1958
48. Thụy Điển 3.7.1958
49*. Iraq 2.8.1958
--------------------------------
50. Indonesia
51. Na Uy
Indonésia và Na Uy tương ứng đã trao đổi giấy chấp nhận tổng lãnh sự và lãnh sự ở Sài Gòn, theo luật pháp quốc tế coi như một công nhận “theo pháp lí “(de jure")
-------------------------------
Các nước sau đây không thông báo chính thức công nhận nhưng đã bỏ phiếu cho VNCH gia nhập Liên Hiệp Quốc, hàm ý công nhận VN:
52. Ireland (Ai-len)
53. El Salvador
54. Peru
55. Panama
56. Uruguay
57. Iran
58. Ethiopia
59. Cộng hòa Dominica
**********
60. Ấn Độ: Ấn Độ đã bổ nhiệm một Tổng lãnh sự ở Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự
61. Miến Điện: Miến Điện đã nhận một Tổng lãnh sự của Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự; điều này tương đương với việc công nhận "trên thực tế" 
62. Campuchia: Vả lại. Campuchia và Việt Nam đã trao đổi đại diện.
(Danh sách cập nhật đến ngày 7/8/1958)

 **********
Như vậy, tính tới thời điểm 14/9/1958, tức là 3 năm sau khi lập quốc, về mặt chính danh VNCH đã được 62 quốc gia trong cộng đồng thế giới công nhận VNCH. Theo công pháp quốc tế về tiêu chuẩn căn bản của một  quốc gia thì VNCH đã bảo đảm được 3 tiêu chuẩn dân số, lãnh thổ, chính phủ; và tiêu chuẩn khác là có đũ năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác, rất vững chắc trong mối bang giao quốc tế và xác định thế đứng của VNCH trong cộng đồng thế giới.
Theo danh sách các nước công nhận VNCH cho tới ngày 7/8/1958 lưu ở Văn khố quốc gia Úc (NAA) có tới 62 nước chính thức hoặc hàm ý công nhận VNCH. Danh sách này ở trang 40-42 (và 44,45) trong hồ sơ "Saigon - Vietnam relations with other countries general [re Republic of Vietnam also known as South Vietnam]” gồm 157 trang, số hiệu NAA: A4531, V221/5, có thể truy cập trực tuyến ởrecordsearch.naa.gov.au. 


Việt Nam Cộng hòa sau khi thành lập đã trở thành  thành viên trong một số tổ chức quốc tế như Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), Ủy ban Kinh tế của Liên hiệp quốc về Á châu và Viễn Đông ECAFE, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực FAO (1950); Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA (1957); Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế ICAO (1954); Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA; Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (1950); Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (1956); Liên hiệp Viễn thông Quốc tế ITU (1951); Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO (1951); Quỹ Thiếu nhi Liên hiệp quốc UNICEF, Liên hiệp Bưu chính Quốc tế UPU (1951); Tổ chức Y tế Quốc tế WHO (1950); Tổ chức Khí tượng Thế giới WMO (1955), Ngân hàng Thế giới (1956), và Ngân hàng Phát triển châu Á (1966). CHXHCNVN cũng đã thừa hưởng mối quan hệ đó từ VNCH để lại như ECAFE, IMF, UNICEF, UPU, WB,  WMO...đó là những mối quan hệ quốc tế mà VNDCCH hoàn toàn không có được trước 1975.
Sau khi được toàn dân tín nhiệm qua Trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 và được dân trao quyền lãnh đạo, ông Diệm đã tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo, biểu quyết và ban hành Hiến pháp vào ngày 26-10-1956 cho nền Đệ Nhứt Cộng Hòa và Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã ban hành hiến pháp ngày 1-4-1967 cho nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Các cơ quan công quyền phải điều hành một cách minh bạch trong khuôn khổ pháp luật quy định. Không cá nhân nào có quyền đứng trên Hiến pháp và luật pháp.


TÍNH CHÍNH DANH CỦA VNDCCH HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ

Quốc gia ở phía bắc, từ vĩ tuyến 17 trở ra do Hồ chí Minh thành lập, sau khi cướp được chính quyền hợp pháp Trần Trọng Kim. Nếu tính từ cái mốc thời gian từ 2.9.1945, khi hồ chí minh đọc bản tuyên ngôn trước quần chúng tại quảng trường Ba Đình cho đến đầu năm 1950, trong thời gian 5 gần năm trời này không có bất cứ một quốc gia nào trên thế giới công nhận và trao đổi ngoại giao với VNDCCH. Đây là sự thất bại lớn nhất của một quốc gia tân lập là không được bè bạn nào trên thế giới công nhận chính quyền do hcm thành lập, luôn cả những anh em trong khối XHCN. Trong truường họp này, nếu như các lãnh tụ tây phương, thi họ đã bước xuống để người khác có đũ uy tín đứng ra  lãnh đạo quốc gia, nhưng bản chất của một tên cướp, hcm cố bám quyền lực để rồi sau đó phải đi ăn mày chính trị từ Mỹ, Tàu Mao và Stalin của Liên Xô.
Như vậy sao gọi là chính danh?? Chính danh của HCM còn chưa có thì làm sao VNDCCH có chính danh? HCM bước ra lãnh đạo miền bắc không qua lá phiếu tín nhiệm của dân. Trong thời gian từ 1945-1950 HCM đã đi lạy lục từ Mỹ tới Tàu Cộng, Nga để được công nhận, nhưng quan thày Nga cũng không đoái hoài tới, vì trùm đệ tam quốc tế cs là Stalin không hề tin tưởng vào HCM.

Không được sự tín nhiệm của LX và bất cứ quốc gia nào trong khối XHCN, nên HCM đã vận dụng Hoa Kỳ công nhận cái chính phủ và VNDCCH do hồ chí minh thành lập. Hồ chí minh đã từng gởi 2 công điện thư tới Harry S. Truman ngày 16.2.1946 và bức thứ hai vào ngày 28.2.1946 để cầu xin Mỹ công nhận. Nhưng công điện đó không được Tổng Thống Mỹ trả lời.  Xem nguồn: https://www.archives.gov/historical-docs/todays-doc/index.html?dod-date=228.
Tới đây, quốc dân đồng bào có thể tự đặt câu hỏi: "Tại sao một con người cộng sản như "hcm" không đánh điện để xin quan thầy của mình là LX giúp đở ?? lại đánh công điện xin sự giúp đỡ từ nước tư bản chủ nghĩa Hoa Kỳ? " Và công điện này của "hồ" không có một trọng lượng nào đối với Mỹ.

Sau khi Tàu Cộng công nhận VNDCCH tháng 1/1950, rồi tới Liên Xô tiếp theo đó là   một vài nước trong khối XHCN anh em đã cộng nhận VNDCCH, tính tới 1954 chỉ đếm được mấy nước như sau: Tàu Cộng , Liên Xô, tiếp theo là các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Bungary, Bắc Triều Tiên, Albania, Romania. Tới năm 1954, hcm chỉ có được sự công nhận ít ỏi từ khối anh em XHCN - đã nói lên được bản chất bịp bợm của đám sử gia đỏ và bút nô đã bẻ cong ngòi bút rồi tự phong tính chính danh cho hồ tặc và VNDCCH. 

Chúng ta cần nên biết, khi "hồ" thành lập xong nước VNDCCH, không được một nước nào trên thế giới nhìn nhận, nên hồ tặc vào đầu năm 1950 đã âm thầm qua Tàu Cộng nịnh bợ Mao Trạch Đông, để xin Mao ban ơn mưa mốc trong việc nhìn nhận VNDCCH. Sau khi qua Tàu để gặp Mao, hồ tặc liền đáp xe lửa đi Liên Xô để gặp Satlin xin được làm bầy tôi cho Quốc Tế cộng sản III. Trước sự quỳ lạy năn nỉ của hồ chí minh, Mao và Stalin đã mủi lòng, sau đó đã công nhận VNDCCH vào đầu năm 1950.
Quá tội nghiệp cho tính chính danh của cái gọi là nhà nước VNDCCH do hồ tặc lập ra. http://danlambaovn.blogspot.de/2015/07/ho-chi-minh-cau-vien-nam-1950.html
So với tính chính danh của VNCH, thì đám DLV và Ban Tuyên Giáo/TW/đảng csVN đã viết hài kịch về cái gọi tính chính danh cho hcm và VNDCCH. Hy vọng các văn nô, bồi bút của đảng cố gắng học hỏi thêm để có trình độ lý luận thuyết phục hơn. Sự tuyên truyền bợ đít đảng của bộ máy bưng bô một cách vô duyên như thế chỉ làm người dân ngao ngán thêm về tài lừa lọc, gian xảo...của hồ chí minh và đảng bán nước csVN.

CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG CỦA HCM ĐỂ MỸ CÔNG NHẬN VNDCCH ĐỀU BẤT THÀNH.

Trước khi đi cầu viện Tàu và Nga, hcm đã mở mặt trận vận động ngoại giao với Mỹ để tranh thủ sự công nhận của Mỹ. Nhưng không có một tổng thống nước Tư Bản nào lại đi thừa nhận một chính phủ bất chính của hồ chí minh thành lập với lập trường không rỏ ràng minh bạch trước cộng đồng thế giới.
Nước đầu tiên mà HCM nghĩ tới trong thế ngoại giao là rất cần có sự công nhận của Mỹ sau khi tuyên bố độc lập, nên từ tháng 4/1945, Hồ đã bắt đầu vận động xin được chính phủ Truman ( Mỹ) nhìn nhận. Tuy nhiên, Patti ( Tình báo OSS của Mỹ) đã nhấn mạnh với Hồ rằng liên hệ giữa hai người chỉ thuần túy có việc tình báo. Qua tháng 8, khi vai trò Hồ và Việt Minh ngày một lên cao, Hồ liên tục kêu gọi sự trợ giúp của Liên bang Mỹ. Ngày 15/8, một đại diện “Đảng Quốc Gia” của Hồ tại Côn Minh tuyên bố như sau về Ủy Ban Khởi Nghĩa Hà Nội:

Ủy Ban Trung ương muốn người Mỹ biết rõ rằng dân Đông Dương muốn được độc lập, và hy vọng rằng nước Mỹ, như một nhà vô địch về dân chủ, sẽ giúp Đông Dương được độc lập...

Tóm lại, dân Đông Dương muốn được hưởng tình trạng như Phi-lip-pin trong một thời gian vô hạn định. (Báo cáo ngày 22/8/1945, William J. Donovan gửi Byrnes; US-Vietnam Relations, 1947-1967, Bk I, C 67)

Trong một buổi nói chuyện giữa Hồ và George M. Abbott ngày 11/9/1946—tức ba ngày trước khi ký Tạm ước 14/9/1946 ở Paris—Hồ trực tiếp xin viện trợ quân sự và kinh tế. Hồ cũng nhắc đến vịnh Cam Ranh ở Trung Bộ. (US-Vietnam Relations, Bk I, tr. C 95-6) Cho tới tháng 12/1946, Hồ tiếp tục xin viện trợ Mỹ. 

Thứ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám còn xin thẳng với Abbott L. Moffat, Trưởng Sở Đông Nam Á tại Bộ Ngoại Giao Mỹ, trong dịp Moffat đang viếng thăm các nước Đông Nam Á, là nhờ Mỹ giúp phát triển căn cứ Cam Ranh và can thiệp để Pháp ngừng chiếm đóng toàn nước Việt Nam. (Ibid., Bk I, tr. 96-7)

Trong giai đoạn từ tháng 9/1945 tới tháng 3/1946, Hồ còn mở nhiều cánh cửa cho việc phát triển liên hệ Việt-Mỹ. Ngoài việc thành lập Hội Thân hữu Việt-Mỹ, Hồ đề nghị gửi 50 sinh viên qua Mỹ để thiết lập liên hệ văn hóa giữa hai nước—giống hệt thủ thuật Hồ đã sử dụng hai thập niên trước, với kết quả là loạt cán bộ Cộng Sản đầu tiên huấn luyện tại Mat-scơ-va. (Ibid., Bk I, tr. C-103-104)

Tuy nhiên, chính phủ Mỹ quyết định giữ trung lập, không hề chính thức hồi đáp các thỉnh nguyện thư của Hồ. Washington chỉ khuyến khích hai phe Pháp và Việt Minh đạt một giải pháp chính trị qua thương thuyết. Ngày 29/9/1945, Gallagher khuyên Hồ nên gửi một phái đoàn qua Trùng Khánh, dù Tướng Marcel Alessandri, Đại diện Pháp ở phía Bắc vĩ tuyến 16, chỉ mời Việt Minh tham dự với tư cách một đảng mà không phải một chính quyền. (Memorandum of 29 Sept. 1945, Gallagher Papers; Porter, Documentation, vol I, tr. 80-81) Ngay tới tháng 12/1946, Moffat còn khuyên Giáp nên tránh chiến tranh, đạt một thỏa ước với Pháp. (Thư Moffat gửi BNG (12/1945); trong Blum, United States and Vietnam, Phụ bản II, tr. 40-2) Quyền Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson còn đề nghị Hồ nên tạm thời bỏ đòi hỏi trưng cầu dân ý ở miền Nam để quyết định thể chế của Nam Kỳ. (Tel. ngày 5/12/1945, Acheson gửi Moffat (Sài-gòn); US-Vietnam Relations, Bk 8, VB2, tr. 85-6)

HCM sau khi thành lập VNDCCH, nhưng không được nước nào trên thế giới công nhận tính luôn các nước trong khối đệ tam quốc tế cộng sản, nên HCM mới thân hành đi Bắc Kinh và Nga để vận động 2 quan thầy này công nhận VNDCCH. Xem nguồn: https://hopluu.net/a1918/vai-van-nan-lich-su-the-ky-xx-ho-chi-minh-nha-ngoai-giao-1945-1946


HCM VẬN ĐỘNG SỰ ỦNG HỘ CỦA LIÊN HIỆP QUỐC!!

Sau cuộc cách mạng gọi là tháng tám thành công, trong giai đoạn từ tháng 8/1945 tới tháng 3/1946, Hồ ráo riết tìm thế chính danh cho VNDCCH qua sự vận động cơ quan Liên Hiệp Quốc. Một trong những thỉnh nguyện thư đầu tiên của Hồ liên quan đến vấn đề hội viên của Ủy Ban Tư Vấn Viễn Đông, nhóm họp ở Washinton ngày 30/10/1945. Ngày 17/10, tức gần hai tuần trước ngày Ủy Ban Tư Vấn nhóm họp, Hồ gửi cho Truman một điện văn, chỉ trích việc nhận Pháp làm hội viên. Theo Hồ, ghế hội viên của Pháp thiếu căn bản pháp lý cũng như thực tế. Việt Nam mới xứng đáng làm hội viên theo đúng tinh thần Hiến chương Đại Tây Dương, cũng như do thiện chí và lập trường dân chủ.


Trong thư gửi Ngoại trưởng Byrnes ngày 22/10/1945, Hồ cũng trở lại vấn đề này. Sau khi bác bỏ lập luận của Anh và Pháp về những gì diễn ra tại Đông Dương, Hồ yêu cầu cho một đại diện Việt Nam có mặt trong phiên họp khai mạc để nói lên quan điểm của Việt Nam. Hồ cũng đề nghị Liên Hiệp Quốc gửi một phái đoàn qua Đông Dương nghiên cứu tình hình, và yêu cầu LHQ nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam. (Ibid., Bk I, C 80-1) . Nhưng Hồ chẳng nhận được hồi âm của LHQ về kiến nghị của mình, Hồ lại gửi công điện cho Byrnes, khẳng quyết Pháp không có quyền đại diện cho dân Việt Nam tại buổi Hội thảo về Viễn Đông ở Washington, và kêu gọi quốc tế can thiệp để chấm dứt việc giết chóc tại Nam Việt Nam. (Tel. No. 820, 26 Nov 1945, Chungking to Washington; Ibid., Bk I, C 92) Các viên chức Mỹ vẫn nghĩ rằng không nên có hành động gì. (Ibid., Bk I, C 71)



Ngoài việc kêu gọi Liên Hiệp Quốc yểm trợ và nhìn nhận, Hồ còn lợi dụng cả Cơ quan Cứu trợ LHQ [UNRRA] để được sự nhìn nhận trên thực tế chế độ VNDCCH. Hồ khẩn thiết kêu gọi cơ quan UNRRA lập tức yểm trợ để ngăn chặn nạn đói tại miền Bắc. (Ibid., Bk I, C 87-8) Nhưng UNRRA thích làm việc với Pháp hơn Hồ. Cuối cùng mọi nổ lực của Hồ vận động quốc tế nhìn nhận VNDCCH đều thất bại.

Tóm lại các cuộc vận động để thế giới công nhận VNDCCH của Hồ đều thất bại cho đến khi Mao Trạch đông chiếm được toàn thể đại lục và nắm toàn bộ quyền lực năm 1949, thì Trung Cộng là nước đầu tiên công nhận VNDCCH vào đầu năm 1950. Có thể nói, quốc gia VNDCCH là một nước vô thừa nhận, không chính danh từ sau khi HCM tuyên bố thành lập. Lý do mà mà đám đầu lĩnh Ba Đình đánh tráo lịch sử về chính nghĩa của VNCH một cách hết sức trơ trẻn là vì chúng không có chính nghĩa nên mới tìm cách mạ lỵ để đưa cái phi chính nghĩa thành chính nghĩa. nhưng tiếc một điều là thời đại internet đã phơi bày được cái gian trá của hcm và đảng csVN không nhận được sự thừa nhận của thế giới trong những năm đầu lập quốc.

Hồ chí Minh chỉ có khả năng thành lập được một đảng cướp và một nhà nước trong tư thế hoàn toàn bất chính, nói nôm na là một nhà nước "danh không chính mà ngôn cũng không thuận". Bác và đảng csVN đã bị nhân dân miền Bắc bỏ phiếu bất tín nhiệm bằng chân vào  năm 1954 và lần thứ hai từ đồng bào miền nam vào năm 1975. Xuất phát từ một đảng cướp nên tà quyền đã không được lòng dân và sau 44 năm lãnh đạo toàn bộ đất nước, csVN đã lộ nguyên hình là một tập đoàn bán nước buôn dân hoàn toàn không đũ khả năng để quản trị đất nước. Đảng cs và đám " tinh hoa quý tộc khỉ đít đỏ" đã dùng những cách bá đạo nhất để giử đảng. Chiến lược của chúng là tìm kiếm thế chính danh bằng cách bôi nhọ, mạ lỵ, chà đạp tính chính danh của VNCH để vươn lên và tà quyền cs đã dùng những thủ đoạn hèn nhất mà chúng đang sở hữu để đánh phá cộng đồng người Việt tị nạn cs ở hải ngoại - một lực đối trọng gay gắt với csVN.

Đây là một sự đánh tráo lich sử, đổi trắng thay đen về tính chính danh của VNCH và VNDCCH trong thời gian tân lập của hai quốc gia VNCH và VNDCCH. Ban tuyên giáo đảng đã trân tráo mập mờ về VNDCCH trong giai đoạn  từ 1945 đến đầu năm 1950.

Rất mong các cháu hậu duệ VNCH phải hiểu thấu dáo đoạn sử này để làm hàng trang  khi bị bọn DLV CAM, dè biểu về tính chính danh của VNCH. Chúc các cháu luôn vui mạnh để luôn là niềm hy vọng của những người đi trước về tương lai tươi sáng của VN trong tương lai.

Người lính già xa quê hương Trịnh Khánh Tuấn 9.8.2019

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2019

SÀI GÒN QUÊ HƯƠNG CỦA NHỮNG TẤM LÒNG VÀNG
NHÀ NƯỚC KHÔNG NO THÌ ĐÃ CÓ DÂN SÀI GÒN LO


Bài viết chỉ đề cập tới những nét đặc thù về phong cách của người dân sinh hoạt nơi mổi miền trên đất nước. Khi nói đến con người hay ẩm thực thì phải đề cập tới vùng miền. Trong bài viết này chúng tôi muốn nhắc tới những nét đẹp trong văn hoá ứng xử của người Sài Gòn trong bối cảnh của một đất nước bị tạm chiếm từ tháng 4/1975. 

Nói tới Sài Gòn, là nói tới cái nôi của làng báo VN - tờ Gia Định báo ra số phát hành đầu tiên tại  VN vào ngày 15-4-1865 tại Sài Gòn, đến nay là tròn 159 năm. Đó là những nền móng căn bản cho nền tảng tự do ngôn luận tại VN. Đó là những phương tiện đầu tiên của người VN trong việc tháo gở thực dân, sự cai trị kềm kẹp của độc tài độc đảng ra khỏi quê hương của chúng ta. Đó là điều quan trọng mổi khi nhắc tới Sài Gòn nơi mà phong trào đấu tranh rất quyết liệt với thực dân và cộng sản. Chính vì Sài Gòn là nơi giao tiếp với nhiều văn hoá Tây Phương và nhiều nước tự do văn minh khác nên Sài Gòn chính là cái nôi đa phương của nhiều ngôn ngữ, góp phần xây dựng văn hoá bản địa, đa dạng từ hình thức tới nội dung và chính là nơi phát triển mạnh về chử quốc ngữ đên đồng bào trên khắp ba miền đất nước và từ đó lan rộng ra đất bắc. Trong khi báo chí ở Sài Gòn rầm rộ ra đời với nhiều thể loại khác nhau thì miền bắc mãi đến gần nửa thế kỷ sau mới xuất bản được tờ báo đầu tiên là tờ Đại Việt Tân báo: tờ báo có viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên ở miền Bắc, phát hành năm 1905. Đúng ra đây là tờ báo song ngữ, có phần Quốc ngữ và phần Hán văn, không phải là tờ báo  thuần Việt như tờ Gia Định Báo.


Trong lịch sử cận đại có ghi nhận nhạc sĩ Nguyễn văn Tuyên, người Sài Gòn, ông sinh ra ở Huế nhưng là cư dân Sài Gòn từ năm ông 6 tuổi cho đến mãn phần. Vào năm 1938 đã có những buổi biểu diễn và diễn thuyết đầu tiên về tân nhạc ở Huế, Hải Phòng và Hà Nội. Những bài hát đầu tiên của ông khi đó là Kiếp hoa, Bông cúc vàng và Anh hùng ca. Sau đó tờ Ngày Nay của Nhất Linh đã xuất bản một vài tác phẩm của Nguyễn Văn Tuyên cùng với của các nhạc sĩ khác. Nguyễn Văn Tuyên sau đó đã tiếp tục trình diễn ở Hải Phòng và Nam Định cho những khán giả nhiệt tình. Xem nguồn: https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/MusicForWeekend/glimpses-tan-nhac-bf-1975-vh-08012011134943.html 
Vào đầu và kéo dài đến giửa thế kỷ 20, nếu Sài Gòn là cái nôi cho nền tân nhạc và tự do ngôn luận thì Hà Nội chính là cái nôi của độc tài độc đảng và còn là biều tượng của sự tàn phá cướp bóc, trấn lột quần chúng của HCM và đảng csVN, là những thủ phạm đã cướp đi sự tự do và hạnh phúc của dân Sài gòn, xuất phát từ đảng Pắc Bó có trụ sở tại Hà Nội - nơi đã phát xuất ra cái chủ nghĩa hôi tanh Mác-Lê Nin, một chủ nghĩa gối đầu của băng đảng csVN. Nơi chỉ huy toàn bộ cuộc xâm lăng miền nam VN, cướp mất đi nét văn hoá nhân văn của người Sài Gòn và nhân dân miền nam. Hà Nội và con người từ đó cũng biến dạng theo văn hoá Mác Lê và cái độc tài độc đảng của giai cấp Pắc bó.


Cảm ơn Chúa Nguyễn Đàng Trong
Đã khai sáng đất Saigon phương Nam!
Sài Gòn hơ ba trăm năm
Đã cưu mang lắm sắc dân đồng bào

Sài Gòn ta mãi tự hào
La thành phố trẻ đẹp giàu văn minh!! 
Lòng người cũng rất nghĩa tình
Bao dung trực tính chân thành quan tâm !!

Người Saigon rất ân cần
Cũng là nét đẹp dễ thân mọi người
Tạ ơn sông núi đất trời
Đất vàng màu mở người vui mở lòng!

KHÔNG AI BẮC TIẾN SÔNG HỒNG???
CHỈ RÒNG NAM TIẾN RUỘNG ĐỒNG PHÌ NHIÊU!!!

Trải qua ách nước tiêu điều
Người Saigon vẫn ấp yêu ân tình
Đảng cộng ăn nói ngông nghênh
" Sài Gòn giả tạo phồn vinh nguỵ quyền"?


Bốn lăm năm đảng hồng chuyên
Đã đưa đất nước có tên " cận nghèo" *

Người Saigon vẫn tỉnh queo
Đảng không lo được dân no đủ đầy
Người Sài Gòn đã ra tay
Nhường cơm sẻ áo vươn vai gánh gồng!!

Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người Sài gòn đã tiên phong hàng đầu
Lá nát đùm lá úa nhàu
Sài Gòn hào phóng ngẫng đầu thanh cao

Đảng quyền ra rả rêu rao
Đảng lo không để dân nào đói cơm
Với bao sắc thuế lôm côm??
Đảng dìm tới đáy để chôn dân nghèo!!

Tình Sài Gòn mãi trong veo
Không như tình đảng bay vèo mị dân?
Có bao giờ đảng bâng khuâng?
" Đồng bào ruột thịt rất cần chăm lo!!"
(Thi sĩ Trần Tố Ngọc)

Và nếu ai đó nói thủ đô Hà Nội là cái nôi của của chiến tranh VN từ khi hcm đọc bản tuyên ngôn ở Ba Đình khai sinh ra nước VNDCCH 1945, thì Sài Gòn chính là tổ ấm tình thương giửa người và người nhau. Truyền thống cao đẹp đó đã tự phát trong bản chất lương thiện hào sảng của người miền nam. Người Sài Gòn rất hảnh diện với với cái tên có trong bài hát "SÀI GÒN ĐẸP LẮM SÀI GÒN ƠI" do nhạc sĩ  Y Vân sáng tác:

Saigon đẹp lắm, Saigon ơi ! Saigon ơi !

Ngựa xe như nước trên đường vẫn qua mau
Người ra thăm bến câu chào nói lao xao
Phố xa thênh thang đón chân tôi đến chung vui
Saigon đẹp lắm, Saigon ơi ! Saigon ơi !

Lá la la lá la
Lá la la lá la
Tiếng cười cùng gió chan hòa niềm vui say sưa.
Lá la la lá la
Lá la la lá la
Ôi đời đẹp quá, tràn bao ý thơ.

Một tình yêu mến ghi lời hát câu ca
Để lòng thương nhớ bao ngày vắng nơi xa.
Sống mãi trong tôi bóng hôm nay sẽ không phai
Saigon đẹp lắm, Saigon ơi ! Saigon ơi !


Nhìn trên bản đồ cũ của Sài Gòn, nếu lấy sông Sài Gòn làm ranh, các đường phố ngang dọc chia thủ đô miền nam là Sài Gòn (vốn trải dài ven sông, kênh rạch) thành những ô vuông, trong đó là các công sở, biệt thự, trường học, bệnh viện và các công trình công cộng khác. Những công trình kiến trúc dành cho công sở cho đến nay vẫn còn tồn tại, quan cảnh khu trung tâm thành phố là những con đường với hàng cây cao vút, những biệt thự mang vẻ đẹp của kiến trúc cổ điển đã trở nên quen thuộc, là một phần không thể thiếu của thành phố, là “dấu ấn Sài Gòn”. Đến Sài Gòn ai cũng phải đến Nhà thờ Đức Bà, Lăng Ông Bà Chiểu, Bưu điện, Quốc Hội Hạ Viện của VNCH, Toà Đô Chính, khu Eden, thương xá TAX, Chợ Bến Thành… và khu trung tâm Nguyễn Huệ – Lê Lợi – Hàm Nghi. Đó chính là “ linh hồn” của người Sài Gòn. 

NHÀ NƯỚC KHÔNG NO THÌ CÓ DÂN SÀI GÒN LO

Người dân sống trong chế độ hiện nay thường nghe câu nói đùa trong dân gian là:

 “Đồng bào đừng no. Để Đảng và nhà nước no cho!”

“No”, ở đây, chỉ là từ biến âm của chữ “lo” (lo lắng, chăm lo) theo cách nói ngọng ở một số địa phương miền Bắc. Bà viết này,người viết, sẽ không bàn đến chuyện "no" hay "đói", mà chỉ tchú trọng vào vấn đề lo, lo lắng hay lo toan cho người dân của đảng và nhà nước csVN. Lý do cần phải đề cập tới việc này, vì lúc nào bất cứ thời điểm nào các lãnh đạo Pắc Bó cũng lên lớp với dân đen là đảng luôn "vì dân". nên mọi việc đảng làm là lo cho người dân được hạnh phúc (?) 

Nhân dân thì chẳng cần lo
Đảng ta lo sẵn bo bo mỗi ngày
Hãy chăm tay cấy tay cày
Nhịn ăn nhịn mặc chờ ngày vinh quang.
(Ca dao)
Đó là mấy câu thơ xuất hiện thời mà dân đen được hạnh phúc vì được đảng cho ăn bo bo (cuối thập niên 1970) tới xéo quai hàm của cái thời gọi là bao cấp (đói kếm vì kinh tế tụt hậu),thật ra luận điệu “Đồng bào đừng lo, để cho Đảng và nhà nước lo” đã có từ lâu, là một chiêu bài để mị dân dưới mọi hình thức. Chỉ vài năm sau trong thời đổi mới, kiểu nói ấy gần như bị xao lãng dần. Nhưng bổng nhiên mấy năm gần đây, người ta lại thấy xuất hiện lại những câu nói như thế. Khi cao trào thanh niên sinh viên xuống đường chống Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa và Trường Sa cũng như có thái độ gây hấn thô bạo đối với các ngư dân Việt Nam, lập tức đảng và nhà nước cộng sản lại tiếp tục câu chuyện cũ rích, đó là  “Các bạn đừng lo! Đó là chuyện đối ngoại, hãy để đảng và nhà nước lo!”
Cái đẹp của Sài Gòn không phải là sự xa hoa phù phiếm, cái "phồn vinh giả tạo"
như người cộng sản Ba Đình đã từng miệt thị từ nhiều thập niên qua trên các hệ thống truyền thông của đảng và nhà nước. Những cái đẹp về Sài Gòn nếu do người có tâm chính trực viết, thì sẽ lột tả được hết nét đẹp nhân văn của Sài Gòn. Người dân sống ở miền Băc ngày nay, nếu như cái gì dân không lo được thì đã có "nhà nước lo". Ngược lại ở Sài Gòn ngày nay, cái gì "nhà nước cs không lo cho dân được thì có người Sài Gòn lo. Đây mới chính là nét đẹp thật sự về Việt tình của người Sài Gòn và đó là điều mà người hậu duệ VNCH chúng tôi đã cảm nhận và muốn nói tới trong bài viết này.

Người Sài Gòn bản chất hiếu khách còn là một nhu cầu sinh tồn của mọi lưu dân trong vùng đất mới này. Trước những khắc nghiệt của thiên nhiên, của bất trắc, lưu dân cần sống có nhau, tương trợ nhau. Tính hiếu khách chẳng qua là một sự lo xa, phòng thân bởi lẽ nếu hôm nay tôi giúp anh thì tôi hy vọng ngày mai anh sẽ giúp tôi khi tôi gặp khó. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi mới gặp nhau, dù chưa quen biết nhau, dân miền Nam đều cơm nước trà rượu như đã là bà con cật ruột.

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi
Khó đi mượn chén ăn cơm
Mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi

(Ca dao)
Có người giải thích tính hiếu khách, hào phóng của dân Sài Gòn, đại diện cho dân miền nam, là do sự trù phú, màu mỡ của ruộng vườn và tài nguyên dễ kiếm được, kiểu làm chơi mà ăn thiệt của miền Nam. Giải thích như vậy có phần đúng, nhưng chưa đủ, bởi lẽ không phải ai giàu cũng hào phóng nếu không sẵn có lòng hào phóng. Sông nước bao la, kinh rạch chằng chịt và đồng ruộng cò bay thẳng cánh lại là những yếu tố  cấu thành cá tánh của dân miền Nam.
Trái với dân cư vùng châu thổ sông Hồng bị bao vây bởi một hệ thống đê điều, làng mạc miền Bắc được thiết lập từ lâu đời nên bị bao bọc bởi những hàng rào, lũy tre, thân tộc liên kết chặt chẽ nhau qua các thế hệ, làng xã ở miền Nam thường thiết lập ven sông, chạy dài theo kinh rạch, không có lũy tre, hàng rào ngăn cách, dòng họ thân tộc chưa phát triển chằn chịt như ở miền Trung, miền Bắc. Nếu nói văn minh sông Hồng là văn minh đê điều thì văn minh đồng bằng sông Cửu Long là văn minh sông rạch. Sông rạch lại qui định tâm tính và tâm tình của dân miền Nam và người Sài Gòn.
Ngoài ra, trong dân gian còn lưu truyền câu Ăn mặn nói ngay để diễn tả sự bộc trực của dân Sài Gòn. Lịch sử di dân và cuộc sống của lưu dân giải thích phần nào cái bản tính nầy. Lưu dân trên đường xuôi Nam thường phải dùng ghe thuyền để vượt biển và chất mặn của nước biển đã thấm sâu vào huyết quản của lưu dân. Sài Gòn đến nay 44 năm đã bị tạm chiếm bởi giặc cộng từ miền bắc đến, Chúng đã xoá bỏ hành động cướp cạn này bằng cụm từ" Giải phóng đất nước" nhằm xoá bỏ tội ác của chùng vơi dân Sài Gòn, Từ khi Sài Gòn bị đổi tên thành TP. HCM thì con người Sài Gòn đã khác đi rất nhiều so vơi những năm trước 1975. Tuy văn hoá đã bị thay đổi theo định hướng của người cộng sản, nhưng Việt tính của người chính gốc Sài Gòn vẩn còn và lưu truyền cho con cháu sau này để trở thành người Sài Gòn không bị nhuộm đỏ.

Sài gòn ngày nay không còn đầy ấp cái nét văn hoá đầy Việt tính như trước 1975, nhưng cái đọng lại về Việt tình của người Sài Gòn vẩn còn sót lại ở nhiều nơi. Cái bản chất lá lành đùm lá rách, lá rách đùm lá nát của người Sài Gòn vẩn còn thấy đâu đó trên nhiều đường phố của Sài Gòn ngày nay. Không có nơi nào mà người dân được hạnh phúc khi thấy được các chàng thanh niện hiệp nghĩa hàng đêm chạy xe rong khắp các đường phố để bảo vệ người dân, danh từ " Hiệp sĩ đường phố" đã là những hình ảnh đẹp đáng được trân trọng của người Sài Gòn, họ thật sự sống cho mình và cho  người, họ đã làm thay cho việc làm của công an cộng sản.
Họ là những người đang giúp dân nhiều hơn cái "nhà nước vì dân" do HCM và đảng cs thành lập từ năm 1945 đến nay! Hiệp sĩ đường phố đang chửi thẳng vào mặt của 205 sĩ quan cấp tướng trong đó có 1 đại tướng, 6 thượng tướng,  40 trung tướng, còn lại là thiếu tướng trong bộ CA - Một cổ máy siêu khủng ( tiếng vc) hàng tháng nghiền nát tiền thuế của nhân dân trong việc chu cấp cho mọi hoạt động của Bộ này.

Hiệp sĩ đường phố bắt cướp là một hiện tượng của sự bất lực về an ninh của nhũng người đã nhận lương từ tiền thuế của người dân nhưng không làm tròn trách nhiệm bảo vệ được cho người dân, đó chính là đám ăn hại trong cái mác gọi là CAND - họ chỉ  thể hiện được chức năng của một đảng cướp ngày, là đi trấn lột người dân để tóm thây tài sản, nhà cửa, đất đai của người dân, ngoài ra vì an ninh hay hạnh phúc cho người dân là việc làm chức năng của CAND. Trên thế giới chỉ có ở VN mới có trường hợp Hiệp Sĩ Đường Phố.

Không những Sài Gòn có những người như " Hiệp sĩ đường phố" mà còn những hình ảnh "sống cho người chung quanh mình" với nhiều dạng khác nhau như: Thùng Bánh mì miển phí,  sửa giày dép miển phí, quần áo củ tặng cho nghèo, Thùng thuốc tây miển phí, quán cơm miển phí, cô thầy giáo dạy học miển phí, thùng trà đá miển phí, Bác sĩ cứu người miển phí, bệnh viện miển phí, vá bánh xe miền phí, hớt tóc miển phí cho người nghèo,...và hàng chục thứ miển phí khác dành cho người nghèo phần lớn là nạn nhân của đảng cs và nhà nước vì dân, họ chính là nạn nhân của chế độ bóc lột người dân bằng 432 loại thuế phí nên có làm quần quật cũng không đũ ăn đũ mặc, nếu không có những thứ miển phí của người Sài Gòn lập ra thì họ sẽ không còn biêt bám víu vào ai để sinh hoạt trong cái XH đầy bất công như ngày hôm nay ở VN.

Buffet miễn phí hơn 100 món cho người nghèo ở Sài Gòn

Người Sài Gòn còn thì người nghèo vẩn tiếp tục được chăm lo mọi mặt bằng tấm chân tình thật sự của tình người với người chung quanh, họ luôn dẩn đầu  trong các việc làm thiện nguyện để nuôi sống dân nghèo Sài Gòn và còn cưu mang những lưu dân có hoàn cảnh khó khăn khi tìm đến Sài Gòn. Bản chất người Sài Gòn là như thế, bản chất cao thượng vì người của dân Sài Gòn đã đánh động được lương tâm của nhiều vùng khác và cuối cùng cũng đã lan dần ra đất Bắc. Nhiều người miền bắc đã vào Sài Gòn học cách làm quán ăn miển phí, rồi về lập nên những quán ăn miển phí cho người nghèo HN, mà hầu hết là nạn nhân của chế độ cs. Vì dân của người Sài Gòn là hiện thực từ các món ăn miển phí đế cái áo quần miển phí và v..v. Họ không điêu ngoa xảo trá như đám lãnh đạo Ba Đình, vì dân bằng đầu môi chót lưởi. Cuối cùng dân đói mặc bây! đảng và nhà nước NO là được rồi.










Nhiều nhà phê bình, nhà văn, nhà báo đều có cái nhìn chung về người Sài Gòn như về sự lịch lãm, tinh tế của văn hóa cư xử trong cộng đồng thì người miền Hà Nội lại phải học hỏi người Sài Gòn rất nhiều. Trong các lễ hội, người miền Sài Gòn ít cảnh nhốn nháo, xô đẩy hay cố tình làm hại của chung. Họ luôn có ý thức tôn trọng người khác và bảo vệ mình.

Những người sài Gòn xưa từng kể những câu chuyện về người Sài Gòn trước khi vùng đất này bị cộng sản chiếm. Vì bản chất phóng khoáng, hào hiệp của người Sài Gòn nên cộng sản Bắc Việt mới lợi dụng được một số người nhẹ dạ theo chúng hầu có nơi cất dấu vũ khí và che chở cho các hoạt động phá hoại trong nội thành của đám cộng sản nằm vùng. 

Sài Gòn đã từng là nơi đã làm nữ văn sĩ Dương Thu Hương bừng tỉnh và từ giả đảng cs, khi cô nhìn thấy tận mắt một Sài Gòn thật sự của miền nam, một thủ đô khác xa với cái tuyên truyền của người cộng sản, nên cô đã bật khóc và sau đó đã rời thiên đường cộng sản và xin tị nạn chính trị tại Pháp. Và Sài Gòn cũng là nơi mà thi sĩ Phan Huy đã sáng tác ra bài thơ được nhạc sĩ Mai Đằng phổ nhạc, đó là bài " Cảm tạ miền nam"  



Trích đoạn bài thơ " Cảm tạ miền nam" của thi sĩ Phan Huy như sau:

Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước, con người, dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng, đứng giữa thủ đô
Giận đảng, giận đoàn, bao năm phỉnh gạt.

....
Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do, dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.


Tóm lại nếu xem Hà Nội đại diện cho người miền bắc, còn Sài Gòn là biểu trưng của người miền nam VN, những con người hiền hoà của miền sông nước với bản chất hào hiệp trượng nghĩa luôn giúp đở người.

Ở mổi nơi chúng ta sẽ khám phá ra được những nét cá biệt riêng của vùng miền, học sinh SG có đánh nhau, nhưng mức độ man rợ thì không bằng HN. Học trò miền Nam chỉ đánh đấm nhau rồi thôi chứ ít khi kèm theo những hành vi xúc phạm như chửi bới thậm tệ, lột áo ngay giữa phố. Cứ thử xem những clip của học sinh Bắc thì biết, đánh nhau không khác gì côn đồ, dẫn đến "đối thủ" chấn thương cả về thể xác cũng như tinh thần.

Ở Sài Gòn, khi vào siêu thị, cửa hàng... thấy những cô nhân viên cúi gập người chào là điều hết sức bình thường. Thế nhưng ở Hà Nội, bạn sẽ xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó cúi gập người và nói lời cảm ơn - đó là chuyện hiếm thấy trên cả miền Bắc. Nếu đi trên đường mà có điện thoại, người miền Bắc có thể vừa lái xe vừa chửi tục, quát tháo ngay giữa phố để chứng tỏ mình là ai, nhưng người miền Nam thì họ sẽ dừng lại, ghé xe bên lề đường mà nói chuyện. Thanh niên miền Nam nhậu nhẹt về khuya, khi thành phố vắng người, không có cảnh sát giao thông họ vẫn dừng xe khi có đèn đỏ, nhưng miền Bắc thì khác, không cần nhìn ngó trước sau mà sẽ phóng xe đi thẳng.

Người miền HN thường ăn nói trịnh trọng, phô trương nhưng người miền SG thì ngược lại, rất nhã nhặn và đôn hậu. Trong đời sống thường nhật, người miền SG biểu lộ tình cảm một cách chân tình, không che dấu như người miền Trung hay khách sáo như người miền HN. Đến nhà một gia đình người SG mà gặp bữa cơm thì sẽ được họ mời một cách cởi mở: "Ăn cơm chưa? Sẵn bữa ăn luôn nghen!" mặc dù đó có thể là mâm cơm đạm bạc. Điều đó cũng không làm cho khách phải ngại ngần. Vì thế mối quan hệ được gắn kết bằng sự cởi mở, thoải mái. 


Người miền SG sống đơn giản nên mọi thứ đều thoáng và dễ chịu. Họ không hay để ý nhau, quản lý nhau, chăm chú quá sâu vào đời tư của người khác. Họ sẵn sàng bỏ qua mọi hiềm khích để khám phá và thưởng thức cuộc sống, vì thế mọi chuyện luôn tươi mới. Còn đối với người miền HN, họ sống phức tạp nên nhiều khi trở thành lối sống giả. Trong cách giao tiếp, có thể trước mặt người khác họ lễ phép, lịch sự nhưng ngay sau lưng họ lại chửi tục. Họ luôn gồng mình cố gắng trong khi bản thân họ lại muốn nổi loạn. Cách sống đó dễ dẫn tới tình trạng bất cần và stress tâm lý. Cuộc sống bí bách, khí hậu khắc nghiệt cũng góp phần làm cho người miền HN tính tình nóng nảy, văn hóa ứng xử kém hơn người SG.

Người Sài Gòn gốc sống trước 1975 vẩn còn giử những nét văn hoá dân tộc khai phóng với nền tảng lễ nghĩa của "Tiên học lễ hậu hoc văn", đã giáo dục được nhiều thế hệ biết tôn trọng người lớn từ trong nhà ra tới ngoài đường. Nếu như có xe tang đi ngang qua, người SG sẽ dở nón ra để chào tiển biệt người quá cố, mặc dù người quá cố không phải là người thân quen với họ, đây là việc làm không bao giờ tìm thấy nơi người Hà Nội. Người Sài gòn làm những việc mà "nhà nước vì dân" không bao giờ làm được. Họ có nhà để cho người đi thăm nuôi bệnh nhân ở miển phí, còn nhà "nước vì dân" thì thu phí những người đi nuôi bệnh. Người Sài Gòn vô tình đã chửi thẳng vào mặt cái nhà nước vô dụng chỉ biết mượn cái áo khoát vì dân để trấn lột người dân bằng những thủ đoạn tinh vi.
Người Sài Gòn rất hối hận và nhiều tiếc rẻ khi biết người thanh niên có tên là Nguyễn Sinh Cung đã rời VN từ bến nhà rồng SG, để rồi con người này sau đó đã biến đất nước hôm nay là nhà tù lớn nhất thế giới để nhốt 93 triệu người dân VN vào trong cái lồng do đảng cs thiết lập.

Để kết thúc bài viết, ngơời viết xin gởi tặng bài viết đến với tất cã những người Sài Gòn xưa và những người Sài Gòn mới ngày nay vẩn còn giử được bản chất của người Sài gòn trước 1975, trong đó có gia đình chúng tôi - người gốc Sài Gòn đã sinh hoạt trong hai nền đệ nhất và đệ nhị Cộng hoà. Tôi rất hảnh diện khi tôi là thế hệ di truyền của người Sài Gòn chính hiệu. Xin vinh danh tất cả những việc làm "vì dân" nghèo, những tấm lòng vàng đáng trân trọng của người Sài Gòn đã sống vì người chung quanh mình với qui luật cùng gồng gánh với nhau để sinh tồn trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước đang bị tạm chiếm.

Biên khảo chính trị Hậu Duệ VNCH Lý Bích Thuỷ 3.8.2019