GDP VIỆT NAM TĂNG RẤT ĐẸP - ĐÓ MỚI LÀ ĐIỀU ĐÁNG SỢ
Nguồn Facebook Xuan Nghia: Trong vài năm trở lại đây, quý vị hẳn đã nghe rất nhiều về một cụm từ vừa đẹp vừa lớn vừa đầy hy vọng: kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam. Nền kinh tế được kỳ vọng bứt phá, tăng trưởng hai con số, đời sống người dân nâng lên, và Việt Nam bước sang một vị thế hoàn toàn khác trên bản đồ thế giới. Nghe rất đã tai. Ai cũng muốn tin. Và có lẽ trong thâm tâm, chúng ta đều mong điều đó thành sự thật. Nhưng lịch sử kinh tế thế giới có một thói quen khá trớ trêu: đúng lúc người ta nói nhiều nhất về vươn mình, cất cánh, bước ngoặt lịch sử, thì cũng thường là lúc cần tỉnh táo nhất. Không phải vì khát vọng là sai. Khát vọng luôn cần thiết. Chỉ là giữa khát vọng và năng lực thực sự của một nền kinh tế, đôi khi có một khoảng cách rất dài. Và nếu chúng ta chỉ nhìn những con số tăng trưởng đẹp đẽ mà không nhìn xuống phần móng, thì điều sụp đổ không phải là giấc mơ, mà là niềm tin.
Bài viết này là một bản tóm tắt theo tinh thần giải ảo: đi chậm lại một nhịp, nhìn sâu hơn một lớp, và đặt câu hỏi dài hạn. GDP tăng nhanh là tăng từ đâu. Ai là người hưởng lợi. Và nếu hôm nay chạy rất nhanh, mười năm nữa chúng ta đứng ở đâu.
Một GDP đẹp không nói cho chúng ta biết điều gì
GDP về bản chất là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong một thời gian. Nó chỉ cộng. Cộng hết. Nó không hỏi người dân có sống tốt hơn không. Nó không hỏi thu nhập trung lưu có tăng không. Nó cũng không hỏi cái giá phải trả cho mức tăng trưởng đó là gì.
Một nền kinh tế có thể tăng trưởng mười phần trăm theo hai con đường hoàn toàn khác nhau.
Con đường thứ nhất là tăng bằng năng suất: người lao động làm ra nhiều giá trị hơn, doanh nghiệp nội địa mạnh lên, công nghệ được nâng cấp, cùng một nguồn lực nhưng tạo ra giá trị cao hơn. Đây là kiểu tăng trưởng bền.
Con đường thứ hai là tăng bằng tốc độ bơm: vay thêm, chi tiêu công mạnh, đẩy xây dựng và bất động sản, chạy dự án nhanh, làm đẹp con số nhanh. Con số GDP vẫn đẹp, nhưng hậu quả để lại có thể rất khác.
Nếu muốn hình dung, GDP giống cân nặng của một cơ thể. Cân nặng tăng nhanh có thể là cơ bắp. Nhưng cũng có thể là mỡ, là nước tích tụ, là thứ làm cơ thể trông to lên nhưng yếu đi bên trong. Tăng trưởng nhanh mà dựa vào yếu tố ngắn hạn cũng giống như tăng cân cấp tốc: nhìn hoành tráng, nhưng sức bền chưa chắc.
Điều nguy hiểm là GDP thường được nhắc như mục tiêu tự thân, thay vì một hệ quả. Chúng ta hỏi làm sao để GDP tăng nhanh hơn, nhưng ít hỏi GDP tăng như vậy thì xã hội thay đổi theo hướng nào. Thu nhập có theo kịp chi phí sống không. Doanh nghiệp nội địa có lớn lên hay vẫn gia công. Và khi tốc độ tăng trưởng chậm lại, chúng ta còn lại điều gì ngoài những con số đã đi qua.
Thu nhập bình quân đầu người và vị trí thật của Việt Nam trên bản đồ thu nhập
Nếu GDP cho ta biết nền kinh tế tạo ra bao nhiêu, thì thu nhập bình quân đầu người đặt câu hỏi khó chịu hơn: mỗi người dân thực sự đang đứng ở đâu trong câu chuyện tăng trưởng ấy.
Việt Nam đã đi rất xa so với quá khứ. Nhưng khi đặt lên bản đồ thu nhập toàn cầu, bức tranh kém lãng mạn hơn: chúng ta đã rời nhóm nghèo, nhưng vẫn khá xa nhóm thu nhập trung bình cao và càng xa nhóm giàu.
Trong kinh tế học có một ngưỡng nhiều quốc gia phải vượt qua nếu không muốn bị kẹt: mốc thu nhập bình quân đầu người khoảng mười lăm nghìn đô la. Vượt qua được, tầng lớp trung lưu thường đủ lớn, tiêu dùng nội địa mạnh, năng lực tự chủ cao hơn. Không vượt qua được, rất dễ rơi vào trạng thái tăng trưởng mãi nhưng không giàu lên.
Vấn đề là từ năm nghìn lên mười lăm nghìn không chỉ là gấp ba con số. Đó là bước nhảy cấu trúc. Đòi hỏi năng suất cao hơn hẳn, doanh nghiệp nội địa đủ mạnh để giữ lại giá trị, và trung lưu thực sự lớn lên chứ không chỉ tồn tại trên thống kê. Rất nhiều quốc gia tăng nhanh ở giai đoạn đầu, rồi chững lại đúng quãng đường này.
Một năm tăng trưởng cao có thể chỉ là hiệu ứng một lần
Khi một năm tăng trưởng vượt trội xuất hiện, câu hỏi cần đặt ra luôn là: thành tích này đến từ nội lực bền vững, hay từ những yếu tố chỉ xảy ra đúng một lần.
Có những giai đoạn kinh tế thế giới đặc biệt: doanh nghiệp dồn đơn, dồn nhập khẩu, chạy trước các rào cản thương mại, chuỗi cung ứng dịch chuyển theo thời điểm. Xuất khẩu tăng nhanh, nhà máy chạy hết công suất, bức tranh nhìn từ xa rất sinh khí. Nhưng bóc tách kỹ, một phần có thể đến từ sự dịch chuyển thời điểm, chứ không hẳn là nhu cầu dài hạn tăng bền.
Lịch sử từng chứng kiến nhiều nền kinh tế được ca ngợi vì một giai đoạn đẹp, rồi hụt hơi khi bối cảnh đổi. Nguy hiểm nhất là lấy năm bất thường làm chuẩn mực cho kế hoạch dài hạn. Khi đó, quyết định tiếp theo rất dễ lệch nhịp.
FDI là món quà hay liều thuốc gây nghiện
Nói về tăng trưởng Việt Nam mà không nhắc FDI thì gần như bỏ sót nhân vật chính. FDI tạo việc làm, mang vốn, thúc đẩy xuất khẩu, làm khu công nghiệp sáng đèn và làm con số tăng trưởng thuyết phục.
Nhưng món quà nào cũng có điều kiện. Câu hỏi không phải nhận hay không nhận, mà là nhận bao lâu và nhận theo cách nào.
FDI giúp ta đi nhanh vì mang theo vốn lớn, công nghệ sẵn, thị trường ổn định. Nhưng đổi lại, phần giá trị gia tăng cao nhất thường nằm ngoài biên giới: linh kiện nhập từ ngoài, công nghệ lõi do bên ngoài nắm, ta tham gia nhiều ở khâu lắp ráp và lao động.
Những nước thành công coi FDI là giai đoạn chuyển tiếp: dùng để học, để tích lũy, để chuẩn bị cho lúc doanh nghiệp nội địa đủ mạnh. Những nước phụ thuộc quá lâu dễ rơi vào thế khó: FDI càng mạnh, doanh nghiệp nội địa càng khó lớn vì không cạnh tranh được vốn, công nghệ, chuỗi cung ứng. Nền kinh tế trông năng động, nhưng sức tự chủ âm thầm yếu đi.
Hãy tưởng tượng leo núi bằng thang máy. Thang máy giúp đi nhanh. Nhưng nếu lúc nào cũng đi thang máy, đôi chân không bao giờ khỏe. Khi thang dừng, ta lúng túng. FDI cũng vậy. Điểm đáng lo không phải FDI nhiều, mà là FDI nhiều nhưng không kéo theo sự trưởng thành tương xứng của doanh nghiệp trong nước.
Tăng trưởng nhưng trung lưu không lớn lên mới là vấn đề cốt lõi
Một nghịch lý quen thuộc của nhiều nền kinh tế đang phát triển là kinh tế tăng trưởng, GDP lên, nhà máy nhiều hơn, đường xá rộng hơn, nhưng tầng lớp trung lưu lớn lên chậm.
Trung lưu không chỉ là khái niệm xã hội. Trung lưu là trụ cột kinh tế: thu nhập đủ để chi tiêu, tiết kiệm, đầu tư cho giáo dục, sức khỏe, thế hệ sau. Khi trung lưu lớn, tiêu dùng nội địa mạnh, doanh nghiệp nội địa có thị trường, nền kinh tế bớt lệ thuộc vào cú hích bên ngoài.
Ngược lại, khi trung lưu co lại hoặc giậm chân, tăng trưởng dù đẹp cũng mong manh. Thực tế nhiều nơi cho thấy thu nhập tăng chậm hơn chi phí sống: nhà ở, giáo dục, y tế, chi phí thiết yếu chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Người làm việc chăm chỉ hơn nhưng cảm giác không tiến lên được bao nhiêu. Khi cảm giác đó lan rộng, niềm tin vào tăng trưởng suy yếu.
Những quốc gia công nghiệp hóa thành công không chỉ chăm xuất khẩu và đầu tư, họ đặc biệt chú ý nuôi dưỡng trung lưu. Họ hiểu tăng trưởng không thể chỉ chảy về một nhóm nhỏ. Nếu lợi ích không lan tỏa, xã hội phân mảnh và nền kinh tế sớm muộn trả giá bằng bất ổn hoặc trì trệ.
Đầu tư công, hạ tầng, bất động sản là kích thích hay đánh đổi tương lai
Khi khu vực tư nhân và thu nhập trung lưu không đủ mạnh để kéo nền kinh tế, nhà nước thường bước vào bằng công cụ quen thuộc: đầu tư công.
Hạ tầng tốt là cần thiết. Đầu tư công đúng lúc đúng chỗ có thể giảm chi phí logistics, tạo nền cho sản xuất, hình thành hỗ trợ dài hạn. Nó giống bón phân đúng liều cho cây đang lớn.
Nhưng khi đầu tư công trở thành công cụ chính để duy trì tăng trưởng, nhất là khi đổ mạnh vào xây dựng và bất động sản, nó có thể biến thành cuộc đánh đổi với tương lai: GDP tăng nhanh, việc làm tăng ngắn hạn, nhưng nợ phình, hiệu quả vốn giảm, tài sản tạo ra không nhất thiết tăng năng suất.
Bất động sản là ví dụ dễ thấy. Nó tạo cảm giác giàu có rất nhanh vì giá tài sản tăng và công trình mọc lên rõ bằng mắt. Nhưng bất động sản không tự động tạo ra năng suất mới, trừ khi phục vụ trực tiếp sản xuất, dịch vụ và đời sống. Khi vốn đổ quá nhiều vào đất và xây dựng, kinh tế có thể sôi động nhưng thiếu động cơ tăng thu nhập cho số đông.
Đầu tư công là phương tiện, không phải mục tiêu. Nó chỉ thật sự có ý nghĩa khi giúp khu vực tư nhân mạnh hơn, giúp người lao động làm ra nhiều giá trị hơn, và giúp nền kinh tế tự đứng vững khi vốn bên ngoài chậm lại.
Toàn cầu hóa cũ đã kết thúc, thế giới đổi luật chơi nhanh hơn ta tưởng
Trong nhiều thập niên, toàn cầu hóa từng được xem như dòng chảy tự nhiên: hàng hóa đi khắp nơi, vốn vượt biên giới dễ, chuỗi cung ứng trải dài. Nhiều nước đi sau được khuyến khích hội nhập vì tin rằng mở cửa đủ nhanh thì tăng trưởng tự đến.
Nhưng các cú sốc liên tiếp khiến các nền kinh tế lớn nhìn lại: tối ưu chi phí có thể làm họ dễ tổn thương trước khủng hoảng và địa chính trị. Kết quả là ưu tiên chuyển sang an ninh chuỗi cung, an ninh công nghiệp, khả năng tự chủ. Thương mại vẫn còn, nhưng không còn tự do như trước. Đầu tư vẫn có, nhưng điều kiện chặt hơn. Toàn cầu hóa không biến mất, nó đổi hình dạng.
Với những nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu và vốn bên ngoài, đây là thử thách lớn: tăng trưởng không còn đến chỉ bằng sản xuất nhiều hơn và bán ra ngoài nhiều hơn. Lúc này, nội lực, thị trường trong nước, và khả năng tạo giá trị cao trở thành yếu tố sống còn.
Thuế quan Mỹ và bài toán lựa chọn khó của Việt Nam
Khi thuế quan của Mỹ quay trở lại như một công cụ chính sách, cuộc chơi đổi khác. Thuế quan không chỉ là chuyện thuế. Nó là tín hiệu về ưu tiên: xuất xứ, minh bạch chuỗi cung ứng, an ninh thương mại.
Với Việt Nam, đây là bài toán khó: thuế có thể làm giảm lợi thế cạnh tranh ngắn hạn, nhưng đồng thời là cơ hội tái định vị. Lịch sử cho thấy quốc gia tận dụng áp lực bên ngoài thường trưởng thành nhanh hơn: cải thiện thể chế, nâng chuẩn sản xuất, làm rõ lợi thế. Ngược lại, quốc gia cố né tránh, kéo dài mô hình cũ thường chỉ mua thêm thời gian trước khi gặp rào cản lớn hơn.
Cửa sổ dân số vàng và vì sao mười đến mười lăm năm tới có thể là lần cuối
Cửa sổ dân số vàng là giai đoạn số người trong độ tuổi lao động cao so với người phụ thuộc. Khi đó, xã hội có nhiều người làm việc, ít người phải nuôi, năng suất tiềm năng cao, chi phí an sinh chưa quá nặng. Đây là lực đẩy tự nhiên.
Việt Nam đang ở giai đoạn cuối của lực đẩy đó. Trong khoảng mười đến mười lăm năm tới, tỷ lệ người trẻ sẽ giảm nhanh, trong khi số người lớn tuổi tăng. Khi điều này xảy ra, mỗi người đi làm phải gánh nhiều hơn, chi phí an sinh tăng, tiết kiệm giảm, xã hội ít chấp nhận rủi ro hơn. Nền kinh tế trở nên nặng nề hơn.
Nhiều quốc gia đi trước cho thấy bài học lạnh lùng: tận dụng tốt dân số vàng thì bứt phá trước khi già hóa. Bỏ lỡ thì dễ rơi vào trạng thái già trước khi giàu. Và khi đã già hóa, sửa sai khó hơn nhiều vì dư địa tài khóa, xã hội và tâm lý đều thu hẹp.
Bẫy thu nhập trung bình là cái bẫy êm ái
Hiện tượng tăng trưởng tốt nhưng không giàu có một cái tên: bẫy thu nhập trung bình. Nó không rơi xuống đột ngột. Nó êm ái. Vì nền kinh tế vẫn tăng, vẫn có việc làm, vẫn có thành tích để báo cáo, nên không tạo cảm giác khẩn cấp. Chính sự tạm ổn khiến cải cách bị trì hoãn. Đến khi nhận ra vấn đề, dư địa thay đổi đã hẹp.
Điểm chung của các quốc gia mắc bẫy là quá thành công với mô hình ban đầu: lao động rẻ, ưu đãi đầu tư, xuất khẩu chi phí thấp. Mô hình này rất hiệu quả lúc đầu. Nhưng khi tiền lương tăng, dân số già, cạnh tranh khốc liệt, mô hình cũ không còn phù hợp. Thay vì chuyển mô hình, họ cố níu mô hình cũ lâu hơn mức cần thiết vì nó vẫn tạo tăng trưởng, dù kém chất lượng.
Thoát bẫy đòi hỏi quyết định không thoải mái: đầu tư mạnh cho giáo dục và công nghệ, chấp nhận rủi ro đổi mới, đôi khi hy sinh một phần tăng trưởng ngắn hạn để đổi lấy năng lực dài hạn. Đây là những thứ khó được ủng hộ vì kết quả không hiện ngay trên bảng số liệu.
Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore khác Việt Nam ở điểm cốt lõi nào
Khi nhắc Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, phản xạ quen thuộc là thở dài: họ khác mình quá. Nhưng nếu chỉ nhìn khác biệt bề mặt, chúng ta tự đóng lại cánh cửa quan trọng nhất: nhìn điểm khác biệt cốt lõi.
Ba quốc gia này không giàu vì may mắn hay điều kiện hoàn hảo. Họ từng nghèo, thiếu tài nguyên, đối mặt rủi ro sinh tồn. Khác biệt nằm ở lựa chọn chiến lược và kỷ luật khi theo đuổi lựa chọn đó.
Hàn Quốc chọn ít ngành nhưng đi cực sâu, bảo hộ có chọn lọc để tích lũy và làm chủ công nghệ, rồi mới mở cửa cạnh tranh khi doanh nghiệp đủ mạnh.
Nhật Bản xây hệ sinh thái công nghiệp gắn với ngân hàng, giáo dục, nghiên cứu, chấp nhận sự kiên nhẫn dài hạn để công nghệ chín muồi.
Singapore hiểu giới hạn, không dàn trải, chọn làm trung tâm tài chính, logistics, quản trị với luật chơi rõ ràng và kỷ luật nghiêm.
Điểm chung: phát triển là quá trình lựa chọn và loại bỏ. Chọn ít thứ để làm thật tốt, chấp nhận không làm rất nhiều thứ khác dù có lợi ngắn hạn. Không có quốc gia nào vừa gia công giá rẻ, vừa công nghệ cao, vừa tăng trưởng nhanh, vừa xây trung lưu mạnh trong cùng một giai đoạn.
Bằng sáng chế, kỹ sư, công nghệ lõi là nền móng còn thiếu
Yếu tố phân biệt rõ nhất giữa quốc gia giàu và quốc gia loay hoay ở ngưỡng trung bình không phải số nhà máy hay số khu công nghiệp, mà là khả năng tạo ra và làm chủ tri thức: bằng sáng chế, đội ngũ kỹ sư, công nghệ lõi.
Bằng sáng chế không chỉ là giấy tờ. Nó là dấu vết của năng lực tư duy, thử sai, và biến tri thức thành lợi thế kinh tế. Ai nắm công nghệ lõi thì giữ chìa khóa giá trị trong chuỗi cung ứng.
Việt Nam có nhiều người giỏi, nhưng lực lượng tham gia nghiên cứu phát triển còn mỏng. Nguồn lực vẫn nghiêng nhiều về vận hành, lắp ráp, tối ưu những gì sẵn có. Điều này không sai ở giai đoạn đầu. Nhưng nếu kéo dài quá lâu, nền kinh tế gặp một trần vô hình.
Một sai lầm phổ biến là tin có thể đi tắt bằng cách mua công nghệ. Mua thì nhanh, học thì lâu. Nhưng công nghệ giống cơ bắp: không thể mạnh lên nếu thuê người khác tập hộ. Không tự mình mày mò, thất bại, cải tiến thì đến lúc quan trọng nhất, có tiền cũng không mua được thứ cần mua. Khi đó, vai trò phụ thuộc trở thành định mệnh.
Nếu tăng trưởng bằng mọi giá, mười năm nữa có thể đối mặt điều gì
Nếu tăng trưởng chủ yếu dựa vào bơm vốn, đầu tư công dàn trải, bất động sản và lao động giá rẻ, mười năm nữa có thể xuất hiện gánh nặng kép: nợ tăng và không gian tài khóa hẹp, trong khi chi phí sống tăng nhanh hơn năng suất, tạo áp lực điều hành lớn.
Một hệ quả khác là trung lưu teo lại. Khi giá tài sản tăng nhanh hơn thu nhập, người sở hữu tài sản giàu lên, người làm công ăn lương khó tích lũy. Xã hội có thể trông thịnh vượng, nhưng bên dưới là phân hóa âm thầm. Những xã hội như vậy thường không thiếu tăng trưởng, nhưng thiếu ổn định và niềm tin dài hạn.
Giải ảo cuối cùng: Việt Nam không thiếu cơ hội, nhưng thời gian không còn đứng yên
Việt Nam không thiếu cơ hội: vị trí địa lý, quy mô dân số, dịch chuyển chuỗi cung ứng, khát vọng xã hội. Nhưng lịch sử kinh tế dạy một điều lạnh lùng: cơ hội không chờ ai quá lâu.
Nhiều quốc gia từng ở vị trí giống Việt Nam hôm nay. Họ có tăng trưởng, có vốn, có dân số trẻ, có niềm tin rằng thời gian còn nhiều. Rồi chỉ một hoặc hai thập niên, bối cảnh đổi, dân số già, lợi thế cũ mất, cái giá của trì hoãn lộ ra. Khi ấy, họ không thiếu nỗ lực, chỉ thiếu đúng một thứ: thời gian.
Giải ảo không phải phủ nhận tăng trưởng, cũng không phải bi quan hóa tương lai. Giải ảo là hiểu tăng trưởng chỉ là phương tiện, không phải đích đến. Đích đến là một xã hội nơi đa số người dân sống được bằng lao động của mình, tích lũy cho tương lai, và tin rằng con cái có cơ hội tốt hơn. Nếu tăng trưởng không phục vụ điều đó, con số đẹp cũng chỉ là lớp sơn mỏng phủ lên vấn đề chưa giải quyết.
Câu hỏi để lại cho quý vị, và cũng là câu hỏi cho chính chúng ta: nếu thời gian không còn đứng yên, chúng ta sẽ dùng phần thời gian còn lại như thế nào.
Từ khóa gợi ý để quý vị dễ tìm lại và chia sẻ cho đúng người quan tâm
GDP Việt Nam, tăng trưởng kinh tế, bẫy thu nhập trung bình, FDI, tầng lớp trung lưu, đầu tư công, bất động sản, toàn cầu hóa, thuế quan Mỹ, cửa sổ dân số vàng, công nghệ lõi, bằng sáng chế, năng suất lao động, doanh nghiệp nội địa
Nếu quý vị muốn, hãy bình luận một câu ngắn: Theo quý vị, điều đáng sợ hơn là tăng trưởng chậm hay tăng trưởng nhanh nhưng sai cách. Tôi sẽ tổng hợp và dùng làm chất liệu cho một kỳ phân tích sâu hơn.
Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa