Thứ Hai, 19 tháng 10, 2026

 ÂU CHÂU PHẢN ỨNG VỀ VIỆC STARLINK GÂY BẤT ỔN TRONG HOẠT ĐỘNG KẾT NỐI

Artikel von Lars Wienand/t-online, ngày 17-10: Các sự kiện tại Ukraine cho thấy sự ctrujc trặc trong hệ thống Starlink có thể gây nguy hiểm cho các hoạt động quân sự như thế nào. Hệ quả là, nhiều nỗ lực đang được khai triển trên toàn thế giới nhằm phát triển các giải pháp thay thế, một xu hướng mà một công ty hàng không vkhoong gian của Đức đang được hưởng lợi.

Vào tối thứ Ba 13-10, các đơn vị Ukraine gặp phải một vấn đề bất ngờ: họ bắt đầu gặp khó khăn trong việc điều khiển máy bay không người lái (Drohne) của mình. Mặc dù các vệ tinh Starlink của Elon Musk vẫn hoạt động và các thiết bị đầu cuối cần thiết để kết nối Internet vẫn vận hành, nhưng chúng không hoạt động như mong đợi, hoặc không đạt được hiệu suất vốn có.

Kết quả là: luồng truyền video thời gian thực từ các thiết bị bay không người lái bị gián đoạn, với những khoảng mất tín hiệu kéo dài từ 10 đến 20 giây; các lệnh điều khiển không đến được thiết bị hoặc bị chậm trễ đáng kể; và các thiết bị bay không người lái trở nên không thể kiểm soát trong thời gian thực khi vượt quá một tốc độ nhất định. Điều này làm giảm khả năng đánh chặn các mục tiêu di động, đồng thời gây gián đoạn công tác chỉ huy và kiểm soát trên chiến trường. Hơn nữa, một số tính năng cụ thể của "Starshield", một dịch vụ dành riêng cho quân sự được xây dựng trên nền tảng chùm vệ tinh Starlink, đã bị vô hiệu hóa. Hệ quả là một số nhiệm vụ đã thất bại, trong khi các nhiệm vụ khác buộc phải hủy bỏ.

Mặc dù chưa có xác nhận chính thức, các báo cáo từ hãng tin Reuters cho thấy chính phủ Mỹ có thể đã can thiệp, hạn chế quyền kết nối của phía Ukraine, đồng thời giới hạn cả quyền sử dụng cho mục đích quân sự lẫn can thiệp vào tốc độ vận hành. Tình hình sau đó đã dịu bớt. Trong khi đó, các thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa đang kêu gọi tiến hành một cuộc điều tra về các hạn chế áp đặt lên Starshield, với một số người cáo buộc ông Trump ủng hộ ông Putin.

Sự việc này là một lời nhắc nhở rõ ràng: việc phụ thuộc vào các dịch vụ vệ tinh có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro, bởi Mỹ nắm trong tay quyền làm suy yếu nghiêm trọng một đội quân chỉ bằng một nút bấm. Vấn đề đang bộc lộ tại Ukraine cũng là điều mà nhiều nơi khác trên thế giới đã nhận ra được việc làm này từ lâu. Chính vì vậy, Liên minh Âu châu (EU) đang nỗ lực xây dựng một mạng lưới thay thế cho Starlink với chi phí lên tới hàng tỷ Euro, bao gồm chùm vệ tinh riêng, hệ thống điều khiển riêng và sự giám sát độc lập, toàn diện.

Một ví dụ điển hình là OneWeb, một mạng lưới gồm 648 vệ tinh do Eutelsat,  nhà cung cấp có trụ sở chủ yếu tại Âu châu, vận hành, bay quanh Trái Đất ở độ cao khoảng 1.200 km. Chính phủ Pháp và Anh là những cổ đông lớn của Tập đoàn Eutelsat (có trụ sở tại Paris), một đơn vị cũng có sự tham gia góp vốn từ một tập đoàn đa ngành của Ấn Độ. Khách hàng của Eutelsat không chỉ giới hạn trong ngành vận tải biển, các giàn khoan dầu hay những khu công nghiệp ở vùng sâu vùng xa; các cơ quan quốc phòng hiện cũng đang sử dụng mạng lưới này cho các kết nối dự phòng và liên lạc vệ tinh bảo mật. Hơn nữa, trước những lo ngại về độ tin cậy chính trị của Elon Musk, Đài Loan đã hợp tác với Eutelsat vào năm 2024 để tăng cường cơ sở hạ tầng viễn thông của mình.

Đức cũng đang lên kế hoạch khai triển chương trình riêng song song với sáng kiến ​​của Liên minh Âu châu (EU).

Tuy nhiên, Eutelsat chủ yếu chịu trách nhiệm trước các cổ đông và thị trường. Do đó, vào năm 2024, EU đã quyết định theo đuổi một giải pháp toàn diện hơn, huy động nhiều công ty mang đậm dấu ấn Âu châu thông qua dự án "Iris²", viết tắt của "Cơ sở hạ tầng vì sự kiên cường, kết nối và an ninh thông qua vệ tinh" (Infrastructure for Resilience, Interconnectivity and Security by Satellite). Ủy ban Âu châu cùng liên danh SpaceRISE, bao gồm một số công ty vệ tinh Âu châu, đang phối hợp thực hiện dự án này nhằm đáp ứng các yêu cầu an ninh cho toàn bộ EU. Tiếp nối Galileo (hệ thống định vị và dẫn đường bằng vệ tinh) và Copernicus (hệ thống quan sát Trái Đất), đây là chương trình vệ tinh lớn thứ 3 của Âu châu. Ngoài Eutelsat, các đơn vị tham gia Iris² còn có Hispasat (do Tây Ban Nha kiểm soát) và SES (với nhà nước Luxembourg là cổ đông chiến lược).

Vào tháng 8, dự án Iris² đã có bước tiến quan trọng: Ủy ban Âu châu và SpaceRISE đã ký kết thỏa thuận mở rộng chương trình, chính thức chuyển sang giai đoạn khai triển. Các vệ tinh dự kiến ​​sẽ được đưa lên quỹ đạo vào năm 2029. Thỏa thuận nhượng quyền ban đầu từ tháng 12 năm 2024, với quy mô 290 vệ tinh và trị giá 10,55 tỷ Euro, nay đã phát triển thành một kế hoạch đầu tư với tổng số vốn hơn 15,6 tỷ Euro, bao gồm số lượng vệ tinh lớn hơn nhiều. Trong đó, 11,6 tỷ Euro sẽ được huy động từ nguồn ngân sách công do Ủy ban Âu châu và Cơ quan Hàng Không Âu châu (ESA) cung cấp, trong khi các đối tác công nghiệp sẽ đóng góp lên tới 4 tỷ Euro.

Nhu cầu về vệ tinh tăng mạnh cũng đã khiến giá cổ phiếu của công ty Đức OHB tăng vọt trong năm nay. OHB là một trong những nhà cung cấp cho dự án "Iris²" của Âu châu, với hợp đồng trị giá gần một tỷ Euro để chế tạo 18 nền tảng vệ tinh. Ngoài ra, công ty này, thông qua quan hệ đối tác với Rheinmetall Digital Systems, hiện đang tham gia đấu thầu một chương trình tiềm năng của Đức: hợp đồng mua sắm cho Bundeswehr (quân đội Đức) trong lĩnh vực thông tin liên lạc vệ tinh, với trị giá lên tới 10 tỷ Euro. Dự án này được ví như một phiên bản "Starlink" dành riêng cho quân đội Đức. Tuy nhiên, đề nghị trên đã vấp phải sự chỉ trích; một số ý kiến ​​cho rằng cách làm đơn phương của Đức có thể làm suy yếu mục tiêu chung của Âu châu, vốn hướng tới việc tổ chức hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh thông qua nỗ lực hợp tác tập thể.

Trung Quốc khai triển dự án "Ngàn cánh buồm" (Thousand Sails) trong không gian

Việc liên lạc thông qua các vệ tinh chuyên biệt cũng được xem là công nghệ then chốt ở nhiều nơi khác trên thế giới. Gần đây, các tàu cá và tàu thương mại gần Thượng Hải đã phải thay đổi lộ trình do một hỏa tiễn Gravity-1 được phóng từ một tàu chuyên dụng vào ngày 16 tháng 9,  đây là vụ phóng đầu tiên thuộc loại này diễn ra gần thành phố đó. Hỏa tiễn  phiên bản Trung Quốc", có tên là "Qianfan" (tạm dịch: "Ngàn cánh buồm").

Các kế hoạch cho dự án này đã có từ năm 2018, dù tiến độ trong một thời gian dài khá chậm chạp. Một phân tích từ Viện Nghiên cứu Trung Quốc Mercator (trụ sở tại Berlin) lưu ý: "Quân đội Trung Quốc đã thực sự bất ngờ trước việc Starlink được sử dụng rộng rãi trong cuộc xung đột tại Ukraine; điều này càng làm nổi bật nhu cầu cấp thiết phải có một chùm vệ tinh riêng của chính họ". Trung Quốc hiện đã bắt đầu cung cấp dịch vụ tại Brazil; 256 vệ tinh internet băng thông rộng của nước này đang hoạt động trên quỹ đạo, phục vụ cả các khách hàng tại Brazil. Chùm vệ tinh "Ngàn cánh buồm" dự kiến ​​sẽ mở rộng lên tới 15.000 vệ tinh. Starlink cũng đang hướng tới quy mô tương tự vào năm 2031, sau khi Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ (FCC) quyết định cho phép tăng gấp đôi số lượng vệ tinh đã được phê duyệt trước đó.

Trong khi đó, liên danh Iris² của Âu châu lại lên kế hoạch với quy mô nhỏ hơn nhiều, do dựa trên một khái niệm khác biệt. Các vệ tinh của Starlink và Qianfan đều hoạt động hoàn toàn ở quỹ đạo Trái Đất tầm thấp (LEO), giúp bảo đảm độ trễ tín hiệu thấp. Các vệ tinh của Elon Musk bay quanh Trái Đất ở độ cao tối đa 550 km, trong khi các vệ tinh của Trung Quốc hoạt động ở độ cao khoảng 1.100 km. Các vệ tinh thuộc dự án Iris² của châu Âu được đặt ở khoảng cách xa hơn: 330 vệ tinh sẽ bay ở độ cao 1.200 km, một khoảng cách vẫn được phân loại là quỹ đạo Trái Đất tầm thấp. Ngoài ra, 18 vệ tinh khác dự kiến ​​sẽ được đặt ở quỹ đạo Trái Đất tầm trung, tại độ cao 8.000 km; tập đoàn OHB đã giành được hợp đồng sản xuất các vệ tinh này. Khái niệm của EU cũng bao gồm các vệ tinh ở độ cao lớn hơn

Khái niệm đa quỹ đạo hướng tới việc kết hợp ưu điểm về đường truyền ngắn, nhờ các vệ tinh ở quỹ đạo thấp, với khả năng bao phủ các khu vực rộng lớn hơn đáng kể từ độ cao lớn. Điều này cho phép phục vụ đồng thời nhiều người dùng hơn với số lượng vệ tinh ít hơn, miễn là có đủ dung lượng băng thông rộng. Hơn nữa, một vệ tinh ở độ cao lớn có thể đóng vai trò dự phòng cho các vệ tinh ở quỹ đạo thấp hơn; nhờ đó, chương trình Iris² khẳng định mang lại khả năng chống chịu tốt hơn. Tuy nhiên, sự kết hợp này khiến công nghệ truyền thông trở nên phức tạp hơn đáng kể. Ngược lại, giải pháp quốc gia dành cho quân đội Đức (Bundeswehr) — dựa trên thông tin hiện có, chỉ sử dụng các vệ tinh ở quỹ đạo Trái đất tầm thấp.

Cả hệ thống vệ tinh "Qianfan" của Trung Quốc và "Iris²" của Âu châu đều đặt mục tiêu thu hút người dùng thương mại và cạnh tranh với Starlink trong lĩnh vực này. Để đạt được điều đó, không chỉ cần phóng cơ sở hạ tầng viễn thông vệ tinh vào không gian, mà còn cần có các giấy phép quốc gia cũng như quan hệ đối tác tại địa phương để phân phối và xây dựng cơ sở hạ tầng. Đây là một nỗ lực phức tạp, điều mà chính Starlink vẫn đang gặp khó khăn tại một số quốc gia. Chẳng hạn, gần đây Elon Musk đã chỉ trích gay gắt Ấn Độ, nơi ông đã đàm phán suốt 4 năm qua nhưng vẫn chưa nhận được các giấy phép cần thiết. "Đây là một tội ác đối với người dân Ấn Độ!", ông bức xúc tuyên bố, đồng thời cho rằng sự chậm trễ này nhằm mục đích bảo vệ các tập đoàn lớn (giới tài phiệt) tại Ấn Độ.

Tuy nhiên, tại Ấn Độ, vấn đề này còn gắn liền với những lo ngại về an ninh và địa chính trị. Một tổ chức theo chủ nghĩa dân tộc Hindu có liên hệ với đảng cầm quyền đã phát biểu: "Nếu Washington áp đặt thuế quan cao đối với hàng hóa nhập cảng từ Ấn Độ với lý do an ninh quốc gia, thì Ấn Độ hoàn toàn có quyền ngăn chặn Starlink dựa trên những lo ngại chính đáng về an ninh quốc gia của chính mình."

(Có sự hỗ trợ của AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-10-2026  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét