Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

 NGUỒN TƯ TƯỞNG NÀO TÁC ĐỘNG VÀO NGUYỄN THÁI HỌC ??

Theo các sử sách do đảng csvn xuất bản, để học sinh nơi thiên đường XHCN được học về người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học, một sinh viên Đại Học là đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ), ông là người có khả năng kết hợp được các thành phần của giai cấp tiểu tư sản, để thành lập một đảng chính trị bí mật, dùng vũ trang để giải phóng đất nước. Người cộng sản có nhiều bài viết về tư tưởng của các nhà lãnh đạo VNQDĐ họ cho rằng tư tưởng của Nguyễn Thái Học bị ảnh hưởng và chi phối bởi "Tam Dân Chủ Nghĩa" của cụ Tôn Trung Sơn còn gọi là Tôn Dật Tiên hay Tôn Văn, người đã thành công trong cuộc cách mạng Tân Hợi cho dân tộc Trung Hoa vào năm 1911 và Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Điều này hoàn toàn sai sự thật.

Muốn biết đảng trưởng Nguyễn Thái Học và những thành phần lãnh đạo của VNQDĐ bị ảnh hưởng khuynh hướng nào nhiều nhất trong việc phát động cuộc cách mạng giải phóng dân tộc?? chúng ta phân tích từ những nhân vật  Nam Đồng Thư Xã, tiền thân của VNQDĐ, cũng là chi bộ đầu tiên của VNQDĐ, rồi đến đảng trưởng Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Nhượng Tống...là những lãnh đạo cao cấp của VNQDĐ, 

KHUYNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG CỦA NAM ĐỒNG THƯ XÃ VÀ CÁC NHÂN VẬT LÃNH ĐẠO:

Nam Đồng thư xã được thành lập vào cuối năm 1925 bởi một nhóm trí thức phần lớn là giáo viên trong đó ba người quan trọng nhất là Phạm Tuấn Lâm, bào huynh của ông là Phạm Tuấn Tài và Hoàng Phạm Trân (tức Nhượng Tống).

Nam Đồng thư xã được thành lập với mục tiêu, vừa hoạt động chính trị vừa làm  thương mại. Việc thành lập nhà xuất bản này, và nhiều chi nhánh tại khắp nơi, đó chính là những nơi tạo nguồn tài chánh cần thiết, để tài trợ cho các hoạt động chính trị của VNQDĐ, cụ thể việc làm của các thành viên trong Nam Đồng Thư Xã là việc viết và phổ biến những tài liệu chính trị nhằm phổ biến những luồn tư tưởng ái quốc mới, theo xu hướng chuyễn động của xã hội trên thế giới qua cuộc cách mạng dân tộc tại Pháp về nhân quyền năm 1789 và cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 tại Trung Hoa một quốc gia láng giềng của VN, có nhiều gắn bó về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán... trong suốt thời gian hình thành đất nước và con người VN. Tuy nhiên họ không có mối liên hệ gì đến cụ Tôn Trung Sơn và Trung Hoa Quốc Dân Đảng.

Ngoài những sách và tài liệu dịch từ tiếng Hoa, các người lãnh đạo nhóm Nam Đồng còn dịch thêm những tác giả Pháp như Contrat Social của Rousseau và L’Esprit des Lois của Montesquieu về cuộc cách mạng Pháp - phá ngục Bastille, đạt nền tảng cho việc xây dựng nền dân chủ trên thế giới, đưa đến việc giải thể sự cai trị độc quyền của các chế độ quân chủ chuyên chế trên thế giới.

Những cuốn sách này được bán với giá bình dân nên đã gây được một tiếng vang không nhỏ trong giới thanh niên trí thức, khiến họ ngày càng bị thu hứt các sách do Nam Đồng Thư Xã dịch thuật. Trong số những thanh niên trí thức lui tới thường xuyên cơ sở NĐTX này, có Nguyễn Thái Học, có người sinh viên trường Cao Đẳng Thương Mại; Phó Đức Chính, sinh viên trường Cao Đẳng Công Chánh, Hồ văn Mịch, sinh viên trường Cao Đẳng Sư Phạm. Họ thường gặp nhau để thảo luận những vấn đề chính trị trong cũng như ngoài nước, cũng như số phận của người dân VN dưới sự cai trị của thực dân Pháp...và nhiều vấn đề khác của xã hội.

Chủ nghĩa Tam Dân (CNTD) của Tôn Trung Sơn cũng được nhóm Nam Đồng Thư Xã quan tâm nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu với quần chúng trí thức VN. Tác phẩm nói về học thuyết này đã được Dật Công và Nhượng Tống ( tức Phạm Tuấn Lâm và Hoàng Phạm Trân ) giới thiệu trong tác phẩm “ Tiểu sử và học thuyết Tôn Dật Tiên “ do Nam Đồng Thư Xã xuất bản năm 1926 và trên báo “Tiếng Dân.

Điều này cho thấy tư tưởng ảnh hưởng đến người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học  đến từ nhiều nguồn tác động khác nhau, từ tinh thần yêu nước thương nòi ( chủ nghĩa dân tộc, yêu nước) và luồng tư tưởng đến từ hai cuộc cách mạng tại Pháp năm 1789 và Trung Hoa năm 1911. 

Nhưng nếu nói các lãnh tụ của Nam Đồng Thư Xã và sinh viên Nguyễn Thái Học, Phó Đức chính ảnh hưởng bởi Tam Dân Chủ Nghĩa của Tôn Trung Sơn thì rất gượng ép và khập khiễng, hoàn toàn không có cơ sở xác định.

Được biết, ông Nguyễn Thái Học, trước khi kết hợp với Nam Đồng Thư Xã, ông đã từng gởi hai bức thư vào năm 1925, đến cho toàn quyền Đông Dương Varenne đề nghị cải cách nền công thương Việt Nam và yêu cầu thành lập một trường Cao Đẳng Công Nghệ tại Hà Nội. Ông cũng yêu cầu chính quyền thuộc địa cho phép được tự do thành lập những thư viện bình dân tại tất cả các làng xã và các tỉnh thành, một hình thức khai dân trí, việc làm khởi đầu cho bất cứ một cuộc cách mạng dân tộc nào trên thế giới vào thời kỳ mà người dân còn chưa biết chữ chiếm đa số trong quần chúng.

Điều này cho thấy chủ nghĩa yêu nước đã phát sinh từ khi ông còn là một sinh viên, chưa kết hợp với bất cứ người nào trong việc chống Pháp.

Cuối tháng 10 năm 1927, Nguyễn Thái Hoc đưa ra ý định thành lập một đảng cách mạng bí mật dùng vũ lực lật đổ chế độ thực dân phong kiến thành lập chính thể Cộng hòa mang lại độc lập, tư do cho tổ quốc. Đề nghị này được mọi người trong nhóm Nam Đồng thư xã tán thành. Và họ thành lập chi bộ đầu tiên gọi là “chi bộ Nam Đồng thư xã” với Nguyễn Thái Học làm chi bộ trưởng trong buổi họp ngày 25.12.1927 tại làng Thể Giáo - Hà Nội.

Nghiên cứu thêm về Nguyễn Thái Học từ lúc hoạt động chính trị cho đến khi thành lập VNQDĐ để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, giành độc lập về cho đất nước và dân tộc VN, ông chưa hề có mối quan hệ nào với Tôn Dật Tiên và Quốc Dân Đảng Trung Hoa, cũng như Tam Dân Chủ Nghĩa.

Thế nên các quan niệm về ảnh hưởng của Tam Dân Chủ Nghĩa nơi Nguyễn Thái Học và các lãnh tụ của VNQDĐ là hoàn toàn sai lạc không đúng sự thật. Trong sách sử cộng sản xuất bản đều đã cố tình viết sai, mang tính bịa đặt, gán ghép ông Nguyễn Thái Học bị ảnh hưởng Chủ Nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn (nguyên danh là Tôn Văn, hiệu là Dật Tiên 1866 - 1925).

Người cộng sản một mặt vinh danh anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học, nhưng cũng không ngừng xuyên tạc chính nghĩa của VNQDĐ trong việc xây dựng nguồn tư tưởng cho VNQDĐ dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thái Học.

Khi mới thành lập, VNQD Đảng chưa có một cương lĩnh chính trị rõ ràng và xúc tích, mà chỉ có những tôn chỉ chung chung vào năm 1928 là: “Trước làm dân tộc cách mạng, sau làm cách mạng thế giới” và thực hiện việc Dân Chủ Hóa cho 3 nươc Đông Dương. Mục đích của Đảng là để đoàn kết các giai cấp trong xã hội đương thời để đphát động cuộc cách mạng dân tộc, xây dựng nền dân chủ trực tiếp, giúp đỡ các dân tộc bị áp bức. Trong điều lệ sửa đổi (công bố tháng 02/1929), Đảng nêu ba nguyên tắc tư tưởng là “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”. Hoàn toàn không có một văn bản nào của VNQDĐ đề cập đến Tam Dân Chủ Nghĩa và Nguyễn Thái Học chưa bao giờ có ý định kêu gọi sự giúp đở của bất cứ một ngoại lực nào.

TƯ TƯỞNG NGUYỄN KHẮC NHU

Về phần Nguyễn Khắc Nhu, một lãnh đạo cao cấp khác của VNQDĐ, còn được gọi là Xứ Nhu, thì sao? Năm 1925, trong cao trào ái quốc tác động bởi đám ma cụ Phan Chu Trinh và vụ án cụ  Phan Bội Châu, ông Nguyễn Khắc Nhu bắt đầu viết nhiều bài đăng trong các báo chí như An Nam tạp chí, Hữu Thanh và Thực Nghiệp Dân báo, nói đến nhu cầu cần phải cái cách xã hội Việt Nam. 

Đặc biệt ông muốn giải phóng dân chúng khỏi những hủ tục và mê tín dị đoan qua một hệ thống giáo dục mới hiện đại cũng như là việc sữ dụng Tây y trong trị liệu và thiết lập những hoạt động công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Ông Nguyễn Khắc Nhu từng là một thành viên của Phong Trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Có thể nói tư tưởng của Nguyễn Khắc Nhu ảnh hưởng nhiều từ Tư Tưởng của cụ Phan Bội Châu. Tức là chủ nghĩa dân tộc yêu nước, hoàn toàn không có sự ảnh hưởng của Tam Dân Chủ Nghĩa của Tôn Dật Tiên.

Bắt đầu cuối năm 1926, ông Nhu và một số đồng chí thời Đông Du xây dựng những công binh xưởng thô sơ những hữu hiệu để sản xuất những vũ khí chống lại Pháp. Họ cũng tích cực tuyên truyền trong hàng ngũ những người Việt đi lính cho Pháp. Cũng trong thời gian này, nhóm Nguyễn Khắc Nhu liên lạc được với nhóm Nam Đồng thư xã với kết quả là hai bên sáp nhập với nhau để thành lập Việt Nam Quốc Dân đảng.

Sự sát nhập của nhóm Nguyễn Khắc Nhu vào VNQDĐ đưa đến một sự kết hợp rộng, không còn giới hạn trong giới học sinh, sinh viên và giới công chức thành thị nữa mà chuyển dần đến các giai cấp trí thức nông thôn, mở rộng ra cho những giai cấp nông dân vùng thôn quê, đưa đến việc gia nhập của thầy giáo làng Vũ Hồng Khanh, và những người Việt đi lính trong quân đội Pháp.

Một trọng điểm của việc sát nhập của nhóm Nguyễn Khắc Nhu vào VNQDĐ, đã gia tăng được sự cộng tác của những người phụ nữ yêu nước trong hành ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng, đó là hai chi em Cô Bắc, Cô Giang...họ là nhưng người phụ nữ đóng một vai trò quan trọng chưa từng có trong sự nghiệp phát triển của VNQDĐ.

Cô Giang (Nguyễn thị Giang) không phải chỉ là người yêu của Nguyễn Thái Học mà còn là một lãnh tụ quan trọng của đảng và là một cựu học sinh của Nguyễn Khắc Nhu. Năm 1929, VNQDĐ có trên 1.500 đảng viên trong đó 120 người là ở trong quân đội Pháp. Dựa trên danh sách 227 tù nhân đảng viên Việt Nam Quốc Dân đảng bị Mật Thám Pháp bắt vào năm 1929, ta có thể thấy qua thực lực của đảng như sau: Thư ký tòa sứ: 36 (16%) 2. Nhân viên hành chánh nam triều: 13 (6%) 3. Giáo viên chính ngạch: 36 (16%) 4. Giáo viên tư thục: 4 (2%) 5. Ông đồ: 2 (1%) 6. Học sinh, sinh viên: 6 (3%) 7. Nhà báo: 4 (2%) 8. Công nhân thương mại hay kỹ nghệ: 10 (4%) 9. Thương gia, tiểu thủ công nghiệp: 39 (18%) 10. Địa chủ, nông dân: 37 (17%) 11. Quân đội: 40 (18%) .

Việt Nam Quốc dân đảng là một tập hợp được hầu hết các giai cấp trong xã hội thời bấy giờ tham gia, cái mà người cộng sản gọi là giai cấp tiểu tư sản.

Một sự khác biệt của Việt Nam Quốc dân đảng với các tổ chức chính trị khác cùng thời đó là việc tổ chức "chi bộ phụ nữ" để hoạt động trong việc liên lạc. Tôn chỉ mục đích, điều lệ, lời thề vào Đoàn ban đầu tương đối ngăn nấp, tổ chức gồm bốn cấp với các ban chuyên môn ở Trung ương và Ban Tuyên truyền, Ban Thanh tra, Ban Tài chính... Với cách tổ chức như vậy VNQDĐ  là một tổ chức mà trước Việt Nam Quốc dân đảng chưa có tổ chức hay đảng chính trị nào được thành lập trước đó được tổ chức khoa học như vậy!!


Tóm lại, những lãnh tụ VNQDĐ và nhóm Nam Đồng Thư Xã, về tư tưởng cách mạng của họ hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi Tam Dân Chủ Nghĩa và Quốc Dân Đảng Trung Hoa, cũng như không có mối lên hệ nào với lãnh tụ của Quốc Dân Dảng Trung hoa, để xây dựng, tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng. 

Từ lúc khai sinh cho đến khi bị thực dân Pháp bắt, rồi tuẫn quốc vào ngày 17.6.1930, đảng trưởng Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông xây dựng tổ chức và khởi động cuộc Tổng Khởi Nghĩa rạng ngày 10.2.1930 vào các cơ sở của thực dân Pháp trên khắp các vùng lân cận Hà Nội, hoàn toàn bằng chính nội lực của mình. Không có bất cứ sự hậu thuẫn nào của các thế lực bên ngoài. Cũng không dùng bất cứ chủ nghĩa ngoại lai nào để thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, việc làm cuả VNQDĐ hoàn toàn đứng trên tinh thần TỰ QUYẾT DÂN TỘC. 

Khởi nghĩa Yên Báy thất bại nhưng đã gây được tiếng vang lớn, tờ l’Humanité (Nhân đạo) của Pháp, số ra ngày 06/03/1930 đã gọi những bản án xử tử, khổ sai, đi đày mà thực dân Pháp tuyên án cho những nghĩa sĩ của VNQDĐ là "tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp" đối với những nhà cách mạng Đông Dương.

Tất cả nghĩa sĩ VNQDĐ đã thành NHÂN như đảng trưởng Nguyễn Thái Học đã nói trong buổi họp tại Võng La vào ngày 26.1.1930, ngày quyết định cho cuộc tổng khởi nghĩa của VNQDĐi: " Không thành công cũng thành nhân"

Vâng! các nghĩa sĩ của VNQDĐ, tất cả đã thành NHÂN, họ là những hạt nhân cho các cuộc cách mạng dân tộc, những hạt nhân của dân chủ, tự do, công bằng, bác ái đã rải xuống đất mẹ VN, để rồi mai hậu sẽ có một VN Minh Châu trời đông, bằng chính những mầm được nở ra từ những hạt NHÂN do các lãnh tụ và nghĩa sĩ VNQDĐ đã ươm từ năm 1930.

Nhân mùa tang Yên Báy năm 2021, chúng tôi , tuổi trẻ Nguyễn Thái Học kính dâng những nén tâm hương đến các anh hùng dân tộc của VNQDĐ, để tưởng nhớ công đức cứu quốc của các vị tiên liệt và nguyện sẽ tiếp nối những chặng đường còn đang dang dở của các vị, để VN thật sự có được Dân Chủ Tự Do đúng với xu hướng thời đại, để người dân VN có đầy đũ Nhân Quyền, có một xã hội công bằng với tam quyền phân lập, không một ai được phép đứng trên pháp luật và hiến pháp.

Biên khảo chính trị từ Hậu duệ VNCH Võ Thị Linh 11.05,2021

Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

TIN BUỒN!!


Cựu Thiếu Tá Nguyễn Phúc Liên Thành đã được chúa gọi về ngày 04.05.2021

CỰU THIẾU TÁ CSQG NGUYỄN PHÚC LIÊN THÀNH 

Năm 1962: Ông tình nguyện nhập ngũ Khóa 16 Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức.

– 1963-1965: Chỉ Huy Nghĩa Quân, Quận Nam Hòa; Đại Đội Trưởng Đại Đội Địa Phương Quân; Chi Khu Phó Chi Khu Nam Hòa, Tiểu Khu Thừa Thiên.

– 1966-1968: Phó Trưởng Ty CSĐB Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên – Thị xã Huế, kiêm Quận Trưởng Quận III Thị xã Huế.

– 1969-1/1975: Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, kiêm Tổng Thư Ký điều hành Trung Tâm Phượng Hoàng Tỉnh Thừa Thiên – Thị xã Huế.

– Tháng 5/1975: định cư tại Hoa Kỳ. 

Ông đã ở lại Sài Gòn cho đến ngày 30/4/1975 và rời quê hương đến Hoa Kỳ sau khi Sài Gòn thất thủ. Ông tốt nghiệp Kỹ Sư Test Engineer từ University of Pomona California năm 1984.

1987-1989: Tình nguyện trong công tác giúp đỡ nhiều cảnh sát trong quân đội VNCH tại các trại tỵ nạn ở Hongkong được tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ.

1992-2002: Giữ chức vụ Tổng Lãnh Sự đặc trách Á Châu Sự Vụ của Cộng Hòa Vanuatu, kiêm nhiệm chức vụ đại diện cho Thủ Tướng Cộng Hòa Vanuatu tại Hoa Kỳ.

– 2010 đến nay: Chairman Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam. Các tác phẩm do Tác giả Liên Thành biên soạn:

1. Thích Trí Quang, Thần Tượng hay Tội Đồ Dân Tộc? (2008)

2. Biến Động Miền Trung (2011)

3. Huế – Thảm Sát Mậu Thân (2014)

Tác giả Liên Thành là người miền sông Hương núi Ngự. Xuất thân trong Hoàng Tộc nhà Nguyễn, tác giả là cháu nội của Ngài Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Hiện tại ông sống tại, miền Nam California. Nguồn:  https://nhayduwdc.org/bv/lt/ts/tieusutacgiaLT_2020JAN25_sat.p

Ông qua đời vào ngày 04.05.2021


Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2021

 " PHẢI GIẾT NÓ CHỨ! NÓ LÀ PHẢN ĐỘNG! NÓ LÀ LÃNH TỤ CỦA VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG" 

Đó chính là lời nói của người em ruột viên công an trưởng Nam Định (CA Việt Minh), hắn dõng dạc nói: “Phải giết chứ! Nó là đại phản động! Nó là một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Để cho sống thế nào được?”. Người mà Việt Minh cộng sản đòi giết chết đó là nhà văn nổi tiếng, Khái Hưng trong làng văn học VN thời tiền chiến.  

Nguồn: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/a-b-c-d/bao-ngay-moi/cai-chet-cua-khai-hung

Nhà văn Khái Hưng (1896-1947) cùng với các nhà văn Nhất Linh (1906-1963), Hoàng Đạo (1907-1948), Thạch Lam (1910-1942), là những cây bút chủ lực của Tự Lực Văn Đoàn và ban biên tập báo Phong Hóa  Ngày NayTrong thời gian Đệ nhị thế chiến, giống như Nhất Linh, Khái Hưng cũng tham gia hoạt động chính trị. Đầu tiên vì tham gia Đảng Đại Việt Dân Chính, do nhóm Tự Lực Văn Đoàn thành lập năm 1938 nên Khái Hưng bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam. 

Tôn chỉ” của Tự lực văn đoàn được công bố trên báo Phong Hóa số 101 ngày 8 tháng 6 năm 1934 gồm 10 điểm, đúc kết lại trong nội dung " Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái. Tôn trọng tự do cá nhân. Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa. Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An  Các tiểu thuyết luận đề của Tự Lực Văn Đoàn đã đưa ra chủ trương nâng cao địa vị phụ nữ trong gia đình và xã hội.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3/1945, Khái Hưng được trả tự do. Đảng Đại Việt Dân Chính của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sau đó sát nhập vào Việt Nam Quốc Dân Đảng, nên Nguyễn Tường Tam và Khái Hưng trở thành đảng viên VNQDĐ. 

Đại Việt Dân chính Đảng là tên gọi một chính đảng quốc gia do nhóm Tự Lực văn đoàn sáng lập, tồn tại từ 1938 đến 1945. Tháng 5 năm 1945, tại Trùng Khánh (Trung Hoa), Việt Nam Quốc dân Đảng liên minh với Đại Việt Quốc dân Đảng (lãnh tụ Trương Tử Anh) và Đại Việt Dân Chính đảng (lãnh tụ Nguyễn Tường Tam) thành một tổ chức mới, lấy tên là Quốc dân Đảng Việt Nam. Từ đó Nguyễn Tường Tam và Khái Hưng trở thành những đảng viên lãnh đạo của VNQDĐ. 

Nhà văn Khái Hưng với 12 cuốn tiểu thuyết và 4 tập truyện ngắn đã xuất bản (nổi tiếng nhất là hai truyện dài Hồn Bướm Mơ Tiên và Nửa Chừng Xuân), Khái Hưng là một ngòi bút được độc giả đương thời hâm mộ. 

Nhận định về sự nghiệp văn chương của Khái Hưng,  nhà văn Việt Minh cộng sản Nguyễn Hoành Khung từng lên án Khái Hưng là “nhà văn phản cách mạng, chống lại nhân dân và tổ quốc”, phê bình độc một thứ giáo điều khuôn mòn “nhân sinh quan tiêu cực”, “cá nhân chủ nghĩa ích kỷ”, “bộc lộ sự bế tắc khủng hoảng tư tưởng”...nhưng vẫn phải thừa nhận rằng những tiểu thuyết của Khái Hưng đều đượm tính cảnh giác tư tưởng là một thái độ văn hóa.

Sự nghiệp văn chương của nhà văn Khái Hưng đã để lại cho đời gồm những tác phẩm giá trị trong làng văn học VN.

TIỂU THUYẾT

Hồn bướm mơ tiên (1933)

Đời mưa gió (viết cùng Nhất Linh, 1933)

Nửa chừng xuân (1934)

Gánh hàng hoa (viết cùng Nhất Linh, 1934)

Trống mái (1936)

Gia đình (1936)

Tiêu Sơn tráng sĩ (1937)

Thoát ly (1938)

Hạnh (1938)

Đẹp (1940)

Thanh Đức (1942)

Băn khoăn

TẬP TRUYỆN NGẮN

Anh phải sống (viết cùng Nhất Linh, 1934)

Tiếng suối reo (1935)

Dọc đường gió bụi (1936)

Cái ấm đất (1940)

Đợi chờ (1940)

Đội mũ lệch (1941)

Cái ve (1944)

Số đào hoa (1962)

KỊCH

Tục lụy (1937)

Cóc tía (1940)

Đồng bệnh (1942)

Tương tự Nhất Linh, nghệ thuật viết của Khái Hưng tập trung trong 35 tác phẩm, chuyển biến từ loại lý tưởng – trong “Hồn Bướm Mơ Tiên” muốn cho ái tình thắng tôn giáo nhưng lại muốn Lan có tư tưởng cao thượng – tới loại truyện phân tách tâm lý, mổ xẻ hình tượng con người bằng một kỹ thuật trưởng thành, đi sâu vào thực tế và khai thác những tiểu thuyết tả thực và phong tục. Tình tiết sắp đặt mới mẻ, không sử dụng khung cảnh lãng mạn cầu kỳ, cốt truyện khúc mắc hấp dẫn để truyền cảm, tư tưởng thái độ đan chen trong “Đợi Chơ”, buồn man mác trong “Tương Tri”, tưởng chừng trong cơn ác mộng đã gặp thiên thần...

Khái Hưng viết một số tiểu thuyết mổ xẻ khá sắc sảo, sinh động phê phán sinh hoạt, phong tục lỗi thời của đại gia đình phong kiến. Trong “Gia Đình” Khái Hưng dựng lên hình ảnh một cặp vợ chồng nông dân trẻ tuổi, đầy lòng từ thiện, lấy việc chăm lo cải thiện đời sống tá điền làm sự nghiệp và lẽ sống đời người.

Là một trong những người sáng lập Tự lực văn đoàn 1932, cũng là một trong những cây bút chính của nhóm, ông viết cho tờ Phong hóa, Ngày nay, thường giữ mục Câu chuyện hàng tuần. Thời kỳ đầu, Tự lực văn đoàn có 6 người, Khái Hưng đã giới thiệu người em là Trần Tiêu, giáo viên trường huyện, đang viết tiểu thuyết Con trâu gia nhập, được anh em trong đoàn đồng thuận để thành Thất tinh – 7 ngôi sao.

Ba thành viên trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn, đó là Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo. Qua tờ Phong Hóa (1933) và Ngày Nay (1936) họ đã làm một cuộc cách mạng về văn học, mở đầu lối viết văn giản dị truyền bá tư tưởng, khuyến khích sống lý tưởng, nghị lực, tham gia việc xã hội, phá bỏ những cổ tục lỗi thời, gây cao trào làm nhà “ánh sáng” để thoát nghèo, kêu gọi yêu nước, đòi hỏi nhân quyền. 

Sau khi bị Việt Minh cộng sản bắt, và sau đó Khái Hưng đã bị sát hại sau Tết Đinh Hợi 1947, theo một số tài liệu và nhân chứng, có những nguồn tin khác cho rằng Ông bị Việt Minh thủ tiêu ngay đêm giao thừa sang năm 1947.

Khái Hưng sinh năm 1896, tên thật là Trần Khánh Giư. Bút hiệu Khái Hưng là do sự đảo lộn những mẫu tự trong hai chữ Khánh Giư mà ra. Ông sinh tại làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Năm 1930, Cổ Am bị Pháp ném bom tàn phá để triệt hạ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cụ thân sinh là Trần Mỹ, Tuần Phủ ở Phú Thọ, Khái Hưng là rể cụ Thượng Lê Văn Đính, Tổng Đốc tỉnh Bắc Ninh, quê làng Lịch Diệp, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Em ông là Trần Tiêu, cũng là một nhà văn, tác giả tiểu thuyết Con Trâu.

Khái Hưng theo Tây học, học trường trung học Pháp Albert Sarraut, đậu tú tài ban cổ điển ở Hà Nội, dạy học tại trường tư thục Thăng Long và chơi thân với giáo sư Nguyễn Tường Tam thành lập Tự Lực Văn Đoàn với sự cộng tác của các nhà văn, nhà thơ, như Khái Hưng, Thạch Lam Nguyễn Tường Lân, Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, Thế Lữ Nguyễn Thứ Lễ… đã khai mở một kỷ nguyên mới về văn học. Những cây bút lớp trước như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác… bị ảnh hưởng sâu đậm của Hán học, văn thường dùng điển tích, vừa nặng nề, khó hiểu, lại khô khan, nên không có tác động mạnh trong quần chúng. Thêm nữa, ở buổi giao thời, thực dân Pháp đã khuyến khích hút thuốc phiện tự do. Thuốc phiện bán công khai ngoài phố. Con người trở nên yếm thế, văn chương cũng bị ảnh hưởng theo. Giọt Lệ Thu của Tương Phố Đỗ Thị Đàm, Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách, Tuyết Hồng Lệ Sử dịch Hán Văn của Từ Trẩm Á…. ra đời khiến cho bầu không khí sầu thảm lại càng trở nên ngột ngạt.

Thanh niên Việt Nam đứng trước một bế tắc thì Tự Lực Văn Đoàn hiện ra như một vì sao sáng chói với tờ tuần báo Phong Hóa phổ biến rất rộng rãi, từ Bắc chí Nam, gây được cao trào văn chương với lối viết rất gọn ghẽ, giản dị và trong sáng. Về phương diện xã hội, họ viết báo cổ động bài trừ, đả phá những cổ tục, giành lại quyền sống chính đáng của phụ nữ, công kích kiệt liệt quan niệm trọng nam khinh nữ, đòi hỏi một xã hội công bằng, con người được sống tự do, nhà ở không còn là những ổ chuột. Họ lập ra hội “Ánh Sáng” để giúp dân nghèo tự làm căn nhà sao cho giản dị, giữ được vệ sinh, bên trong đầy ánh sáng. 

Một công trạng lớn của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn giải phóng cho người phụ nữ VN bị Khổng Tử chụp vòng kim cô trên đầu trong một thời gian dài hai chục thế kỷ. Nhóm TLVĐ đã cổ vũ một định hướng mới theo Tây phương, đưa người phụ nữ đến gần sự phát triển con người và xã hội. Ảnh hưỡng văn hoá phương tây và đà tiến của chử quốc ngử vào đầu thế kỷ 20 đã quét sạch được Nho giáo và phong kiến, cũng như thổi luồng gió mới vào người phụ nữ tại nước ta. 

Như vậy sau gần 20 thế kỷ làm mưa làm gío tại VN và bắt nhốt người phụ nữ VN trong cái vòng rào Tam Tòng Tứ Đức, định hướng cho người phụ nữ là phải sống trong vòng rào của phép tắc do Khổng Tử tự đặt ra. Trong đó người phụ nữ chỉ được thi hành bổn phận làm dâu và làm mẹ, không được đến trường để mở mang trí tuệ, lấy chồng phải theo nhà chồng suốt đời, chồng chết theo con, sanh con đẻ cái cho nhà chồng, ngoài ra tất cả quyền lợi căn bản về nhân và dân quyền đều bị Khổng Tử tước đoạt hết!! TLVN chính là vòm sao sáng trên nền trời văn học VN, vào thời cuối phong kiến.

Tuần báo Phong Hóa sau một thời đã bị thực dân đóng cửa, tuần báo Ngày Nay ra tiếp theo sau đó vào năm 1936.

Nguồn:https://phonhonews.com/70-nam-tuong-niem-khai-hung-cau-chuyen-van-hoc-pham-ngoc-luy/

Vì là đảng viên của đảng phản động là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông bị Việt Minh cộng sản bắt giam tại Liên Khu 3 , rồi đem xử tử hình ở bến đò Cựa Gà, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tuy nhiên ngày chính xác ông bị Việt Minh cộng sản giết  vẩn còn gây tranh cải với nhiều giả thuyết khác nhau.

NHÀ VĂN KHÁI HƯNG BỊ VIỆT CỘNG GIẾT CHẾT SỨC DÃ MAN

Nói tới Khái Hưng không ai không liên tưởng đến một nhà văn đã tự tạo cho mình một chỗ đứng vững chãi trong làng văn làng báo, nhưng ít ai muốn nhắc đến khía cạnh này, đương nhiên các nhà ngự sử văn đàn đã thừa nhận. Người ta muốn đề cập tới cái chết của Khái Hưng, nó không giống cái chết của mọi nhà văn khác. Hiện nó còn nằm trong nghi vấn mà là một đau thương lớn lao cho những ai biết tới và là sự ưu tư cho những người làm công tác văn học.

Theo Thế Phong trong tập “Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam–- Nhà Văn Tiền Chiến 1930 – 1945”, Khái Hưng bị Việt cộng bắt ngày 27.12.1946, đưa đi an trí ở Lạc Quần - Chiné, Phủ Lý – và bị thủ tiêu năm 1947. Nguyễn Thạch Kiên trong “Về Những Kỷ Niệm Quê Hương”, phác giác sau ngày 19.12.1946 chiến cuộc xảy ra tại Hà Nội, Khái Hưng lợi dụng khi quân đội Pháp ngưng chiến 24 giờ cho dân chúng được tự do đi lại tìm thân nhân, đã rời bỏ Hà Nội tìm đường về Nam Định mong gặp lại gia đình, đã bị Việt cộng bắt giam tại Lạc Quần, từ đó không còn ai thấy nữa. Nguyễn Thạch Kiên còn cho biết Nguyễn Cống kể cho nghe là bà vợ của Khái Hưng vẫn không tin chồng mình bị giết, bởi Khái Hưng từng dạy học cùng Võ Nguyên Giáp ở trường Thăng Long, và quen biết Trần Huy Liệu, khi tuyên thệ gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Bến Thóc, Nam Định. Nguyễn Cống tiết lộ thêm, sau ngày Việt Minh cộng sản tiếp quản Hà Nội năm 1954, Phạm Hoàng Ái – em vợ của Nhất Linh – cho biết vợ của Khái Hưng đã gặp một trong những người em kết nghĩa của Khái Hưng và đem chuyện chồng mình ra hỏi. Người đó lạnh lùng trả lời:

- Chị còn nhắc đến tên Việt gian đó làm chi. Sông biển đã là mồ chôn từ lâu bọn đó rồi.

Nghe tin đó bà khóc ngất, té xỉu và qua đời. Tô Văn thuật lại vụ Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu chi tiết hơn. Khi đó ông bỏ Hà Nội tản cư về quê vợ ở Nam Định dù đã có nhiều người can ngăn. Khái Hưng nghĩ Việt Minh cộng sản không thể ác tâm tiêu diệt những thành phần cách mạng đối lập với họ, hơn nữa Khái Hưng không muốn sống ở Hà Nội để chịu sự nô lệ . Khái Hưng về đây có mấy ngày đã xảy ra sự việc bị cộng sản giết chết.

Một buổi chiều nọ Khái Hưng sang làng Cổ Lễ thăm một người bạn, bỗng có hai người lạ mặt tiến đến gặp Khái Hưng, cho biết Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định ngỏ ý mời Khái Hưng tới trụ sở để bàn tính công chuyện. Khái Hưng đòi xem công lệnh và giấy mời thì họ dí súng vào ngực Khái Hưng, trói lại, bịt mắt dẫn đi. Họ dắt Khái Hưng tới bến đò Yên Lãng, dùng dao găm đâm lia lịa vào gáy. Khi Khái Hưng ngã xuống họ còn bồi thêm mấy nhát nữa cho tới chết. Đâm xong họ khiêng xác Khái Hưng đem xuống thuyền, buộc thêm đá tảng vào, và chèo thuyền ra giữa sông quăng xuống.

Chúng tôi những ngưởi trẻ ở Hải Ngoại, nhân mùa tang Yên Báy năm 2021 ghi lại tội ác của cộng sản VN, về việc thủ tiêu rất dã man các nhà hoạt động cách mạng yêu nước, của đảng csvn do hồ chí minh lãnh đạo, trong đó có nhà văn nổi tiếng Khái Hưng một  đảng viên của VNQDĐ. Đất nước VN đã tan nát từ ngày có họ "hồ" và đảng csVN. Một đất nước  thua hết tất cả các nước quanh vùng về mọi mặt.

Biên khảo chính trị Hậu Duệ VNCH Võ Thị Linh 08.05.2021

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

SỰ THẬT ĐẰNG LÒNG !! HỒ TẶC ĐÃ NHẢY VÀO  NGỰ TRONG CÁC VÕ ĐƯỜNG VOVINAM QUỐC DOANH TRONG NƯỚC

Không có việc gì mà cái gọi là VVN quốc doanh không làm được, từ việc rước "hồ râu" vào các võ đường, để tham dự những buổi sinh hoạt truyền thống của môn phái, như trong các buổi lễ thăng đai ở Vĩnh Long năm 2017. Năm nay với bước tiến mới, đám con hoang thờ "hồ" này, đã rước luôn tên ác tặc này vào các võ đường Vovinam trong nước, để cùng sinh hoạt với môn phái. Một hình ảnh phía dưới đây, được cho là của một võ đường thuộc tỉnh Sóc Trăng, chụp được trong một kỳ thi lên đai tại địa phương. 

Rất mong tất cả quí võ sư đang sinh hoạt ở hải ngoại vì sự nghiệp chung của môn phái, để kịp thời chấn chỉnh, trước khi sự xâm lăng của "hồ tạc" sẽ lan rộng khắp nơi trong tương lai. Thật ra, đó là trách nhiệm của các vị lãnh đạo các chi phái Vovinam và các võ đường Vovinam trên toàn thế giới, chớ không phải là trách nhiệm của lớp hậu bối chúng tôi. Chúng tôi chỉ còn biết lên tiếng để đánh thức trái tim từ ái từ ái của những môn sinh còn khoắc khoải với tiền đồ của Vovinam chính thống.

Đứng đầu hê thống quốc doanh trong nước và hải ngoại hiện là một Dân Biểu Quốc Hội khóa 12, 13, có tên Mai Hữu Tín (một nhân vật không tôn giáo). Ông này còn là Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội nước chxhcnvn, Phó chủ tịch hội Liên Hiêp Thanh Niên (một cơ sở ngoại vi của đảng, dành để chọn những đảng viên tương lai, để kết nạp đảng).

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Mai_H%E1%BB%AFu_T%C3%ADn

MỘT VÀI NÉT VỀ NGƯỜI RƯỚC HỒ TẶC VÀO LÀM SÁNG TỔ MÔN PHÁI

Theo lời kể của một võ sư, từng sinh hoạt ở Cần Thơ trước 1975 cho chúng tôi biết, thì đây có thể là võ đường của võ sư  Hà Thanh Bình (ông võ sư này, cách nay không lâu ...đã từng lên tiếng chống đối việc công nhận chức vị Chưởng Môn của võ sư Trần Huy Phong)

Ông võ sư Hà thanh Bình , hiện là một võ sư Hồng đai đệ nhị cấp (đai đỏ với 2 vạch trắng). Trước năm 1975, ông này là học trò của võ sư Nguyễn văn Sen, ở Sóc trăng . Một võ sư từng sinh hoạt trước 1975 ở Cần Thơ cho biết, ông Bình là một tu sĩ Phật Giáo với nhân thân là một người trốn quân dịch trong chế độ VNCH trước 1975. Ông này đầu quân vào Vovinam để trốn lính.

Nhiều võ sư cùng thời đều biết ông này, khi ông Bình còn sinh hoạt trong môn phái Vovinam thì đầu vẫn còn cạo trọc... Một người trốn quân dịch trong chế độ nhân bản VNCH, được coi là một thành phần bất hảo, thiếu trách nhiệm của một thanh niên trong thời chiến, trong khi những thanh niên cả nước tòng quân chống giặc cướp phá đồng bào, cứu nước trước sự phá hoại của đám cộng sản nằm vùng, thì ông này chối bỏ trách nhiệm đó, như vậy quí đồng môn có thể biết ông Bình là ai rồi?? Nói một cách dể hiểu, là thứ ăn cơm cơm quốc gia, đội lốt tu sĩ , bám váy Vovinam để có cái dù che chở, chứ không phải là một võ sư có tâm có tầm với Vovinam.

Việc làm của ông Bình đưa hình "hồ râu" vào võ đường, để bắt đầu cho việc thay đổi chính sử của môn phái Vovinam, cũng như những võ sư phản đồ trong cái gọi là Hội Đồng Chưởng Quản môn phái, đây là những võ sư đã từng thay đổi điều tâm niệm số 8 của môn phái, để làm đẹp lòng đảng csvn. Xem nguồn: http://vothilinh.blogspot.com/2019/07/oi-ieu-v-e-niem-o-8-c-ua-mon-phai.html


Chỉ 11 năm sau khi chưởng môn Lê Sáng mất, thì ngày nay đám võ sư khinh sư diệt tổ dâng bán Vovinam cho đảng csvn, mong được đảng trọng dụng, kiếm chút danh hảo với thiên hạ qua cái đai đỏ mấy gạch trắng. Nhìn họ thật tội nghiệp, lặn ngụp trong nồi cháo heo thập cẩm của đũ thứ quốc doanh , nào là Công giáo, Tin lành, Hoà hảo, Cao đài, Phật giáo quốc doanh, võ cổ truyền quốc doanh..., nơi tập hợp của những con người hám danh không có lý tưởng.

Môn phái Vovinam, tuy không làm chính trị, nhưng nếu nhìn thẳng vào hành động của sáng tổ Nguyễn Lộc, để thấy Vovinam là nơi nuôi dưởng những trái tim từ ái đầy ấp tình yêu nước và dân tộc, ưa chuộng tự do, dân chủ, công bằng và luôn có ý thức về việc làm diệt ác của tất cả những Việt Võ Sĩ chân chính. 

Sáng tổ Nguyễn Lộc đã để lại cho hậu thế một tinh thần bất khuất trước cường quyền cộng sản ở miền bắc, nên ông đã dẩn toàn gia và các môn sinh tâm huyết di cư vào nam để lánh nạn cộng sản. Gia đình võ sư sáng tổ, là một biểu tượng sáng ngời về lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc, võ sư sáng tổ khi đã nhận định được Việt Minh là một thứ bạo quyền, còn đang che đậy các nanh vưốt, nên sáng tổ đã dứt khoát chia tay với bạo quyền do "họ hồ" và đảng cộng sản lãnh đạo.

Từ đó sáng tổ và gia đình đã dứt khoát phải tránh giặc cộng, gia đình sáng tổ hai lần chạy tránh bạo quyền cs, lần thứ nhất vào năm 1954 và lần II vào năm 1975. Sáng tổ Nguyễn Lộc cương quyết không hợp tác với bạo quyền csvn.

Đây là sự thật lịch sử, xin các vị võ sư và môn sinh hiện đang còn sinh hoạt với Vovinam trong hay ngoài nước, đừng dựa vào mối quan hệ với bạo quyền cộng sản mà bẻ cong đi sự thật này. Đừng nên biến một Nguyễn Lộc quốc gia thành người trung dung với ý thức hệ cộng sản. Hãy trả sự thật này về với sáng tổ Nguyễn Lộc với võ sư Chưởng môn đời II Lê Sáng và Chưởng môn đời III Trần Huy Phong. Quí vị lãnh đạo trong môn phái của nhiều phía đừng bóp méo lý tưởng của các bậc tiền bối lãnh đạo Vovinam trước 1975.

Chúng tôi người trẻ Vovinam, thuộc vùng nam Đức khẳn định với tất cả môn sinh Vovinam trên toàn thế giới về lập trường quốc gia dân tộc của ba vị lãnh đạo kể trên. Võ sư Nguyễn Lộc là người đã bị Việt Minh (tiền thân của đảng csvn) tìm giết, hai vị khác còn lại là Lê Sáng và Trần Huy Phong đều bị cộng sản nhốt nhiều năm trong các trại cải tạo sau 30.4.1975.

Hoàn cảnh của hai vị chưởng môn Lê Sáng và Trần Huy Phong, đều là tù nhân trong chế độ cộng sản, hai vị này đã từng bôn ba ra ngoại quốc nhiều lần để tìm đặt cái gốc chính thống của Vovinam ơ hải ngoại thay vì trong nước, sau khi cộng sản cưởng chiếm miền nam VN năm 1975. Nhưng công việc chưa thành còn đang dang dở thì hai vị đều đã từ giả môn phái ra đi. 

NHỮNG NGÀY CUỐI ĐỜI CỦA CHƯỞNG MÔN LÊ SÁNG TRONG BỆNH VIỆN

Trong những ngày Chưởng môn Lê Sáng nằm trên giường bệnh thì đám phản đồ kéo nhau vào tận giường bệnh của chưởng môn, nằn nặc đòi võ sư Lê Sáng thăng đai, như ông Nguyễn văn Chiếu, đám phản đồ này còn đưa cho ông ký các quyết định mờ ám về việc thành lập Hội Đồing Chưởng Quản Môn Phái. Cũng từ những quyết định mờ ám này mà các võ sư niên trưởng ở Hải Ngoại đã không chấp nhận sự sắp đặt này của đảng csvn và tách khỏi hệ thống Vovinam trong nước, sinh hoạt riêng biệt ở Hải ngoại. 

Từ đó môn phái đã trôi nổi với tình trạng sứ quân, mổi một võ sư là một ông vua, tình trạng vở nát trong Vovinam ngày càng trầm trọng. Không ai còn có đũ khả năng và uy tín để hội tụ các chi phái Vovinam hiện nay trên thế giới. Theo nhận định của một hậu bối như chúng tôi, nguyên nhân chính: phần lớn các võ sư lãnh đạo Vovinam ngày nay đã lơ là trong việc nâng cao ý thức chính trị của mình, nên đưa đến tình trạng hổn loạn về kỷ cương và nề nếp trong sinh hoạt của môn phái.

Một tấm hình bên dưới đây, cho thấy một kỳ thăng đai trái với qui lệ môn phái năm 1964 dành cho những võ sư Cao Đẳng của môn phái, không qua những thủ tục truyền thống chính thức phải có, dành cho một môn sinh khi được thăng đai ở cấp Cao Đảng, bắt buộc phải trình một luận án lên đai trước Hội Đồng Võ Sư..., người được thăng đai, được tổ chức mang đai mới thật long trọng trước những võ sư cao cấp chứng kiến và trước bàn thờ tổ Vovinam ở tổ đường..v..v..

Còn nay thì sao? Nhìn thấy mà buồn, nhục nhã với những lãnh đạo Vovinam quốc doanh trong và ngoài nước, những con người này đã ôm trái tim từ ái qui phục dưới chân đảng cộng sản vn, phần lớn các vị này đã cúi đầu trước cường quyền, bán danh dự môn phái và của sáng tổ cho đảng csvn. 

Tư duy trong họ đã có suy nghĩ ngược hướng với người sáng tổ: thay vì đem trái từ ái phục vụ cho người dân và tổ quốc, cho cái thiện, thì họ lại tận tình dâng hiến cho bạo quyền cộng sản, đánh mất lương tri và khí phách của một Việt võ sĩ, để mong được sống với kiếp hèn trong chế độ bán nước hại dân như chế độ hiện nay. Một chế dộ mà người viết gọi là bán nước. Nếu quí môn sinh nào nói không bán nước, thì tôi xin được hỏi quí vị một câu:

Diện tích của nước VN trước năm 1999 có diện tích là 325.000km2, nhưng tại sao đến những năm sau đó dựa trên số liệu từ trang thống kê của WB - Ngân hàng Thế giới, là trong năm 1999 Việt Nam đã bị mất 15.000 km2 ?? từ 325.000 km2 xuống còn 310.000 km2, tức khoảng hơn 5% diện tích đất đã bị mất vào tay TQ.?? Quí vị võ sư hay môn sinh nào có thể trả lời câu hỏi này của người viết hay không?? 

Quí vị có thể tham khảo việc này nơi những sách địa lý trước 1999 và sau này, để biết rỏ sự thật về đảng bán nước, một võ sỉ đạo chân chính bao giờ cũng phân biệt được đâu là Chánh và đâu là Tà để định hướng được hướng đi cho mình trong lòng dân tộc, đừng ngoan cố tiếp tục mù lòa về bản chất bán nước hại dân của bạo quyền csvn. 

Phần 15.000 km2 bị thụt xuống sau 1999 được ghi chép rõ ràng trong CIA World Factbook từ năm 2010 trở đi, chính là tổng diện tích nước mặt nội địa (hồ, ao, sông, ngòi, đầm, phá v..v.). Trước 2010, CIA cũng ghi chép như World Bank trước 1999 là diện tích đất là 325.000 km2 , trong các sách địa lý của VNCH cũng đều ghi giống như WB đã ghi. Nhưng sau năm 1999 đảng cs đã ghi lại, thực chất diện tích đất chỉ có 310.000 km2 còn lại là 15.000 km2 diện tích của VN đã biến đi đâu ? để trả lời câu hỏi này, thì mọi người hãy nhìn vào Ải Nam Quan của VN, hiện nay đã nằm sâu trong lãnh thổ TQ, điều này đã nói, bạo quyền cộng sản đã âm thầm dâng 15.000km2 đất biển đào cho đàn anh 4 tốt của đảng csvn.

Như chúng ta, người dân Việt đều biết, lãnh thổ VN là gia sản của tổ tiên đã để lại cho cháu Lạc Hồng, càng không để lại các gia sản này cho một đảng phái nào hết!! Thế nên, không có một chế độ cầm quyền nào được phép đem dâng bán di sản của tổ tiên này cho ngoại bang. 

Ngày xưa, khi đảng bán nước csvn cưởng chiếm miền nam VN vào ngày 30.4.1975, người ta đã thấy đảng lên án triều Nguyễn bán nước thông đồng với giặc Pháp (?!), dâng các tỉnh cho Pháp. Đảng nên cho gở bõ các tên đường mang tên những nhân vật của triều Nguyễn xuống và thay vào đó là những nhân vật buôn dân bán nước thời nay, những nhân vật phịa như anh hùng Lê văn Tám...

Đừng lừa bịp người  môn sinh Vo vinam
Để mất niềm tin vào Võ Việt Nam
Là người Việt Võ Sĩ hãy sống thật
Với tim từ ái và bàn tay thép

Rồi hôm nay thì sao? đảng ác ma csvn đã thông đồng với đàn anh "4 tốt 16 chử vàng", đem dâng một số đất đai biển đảo cho TQ nhằm trả nợ chiến tranh và giử hòa hiếu với giặc phương bắc, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc vn.

Ngày xưa, trong việc bảo vệ chủ quyền của đất nước, vua Lê Thánh Tông đã từng dặn dò các quan phụ trách biên cương - đứng đầu là Thái bảo Kiến Dương bá Lê Cảnh Huy - vào tháng 4 năm Quý Tỵ 1473 và đã được ghi lại trong sách Đại Việt sử ký toàn thư: Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di! 

Nếu vua Lê Thánh Tông còn sống tới ngày nay, có phải là đảng csvn sẽ bị ông đem tru di tam tộc từ TBT trở xuống có phải vậy không??

Chúng tôi muốn chứng minh với quí đồng môn về bản chất của một chế độ mà quí vị đang dấn thân, không phải là một nhà nước hay chế độ thương nước, thương dân như các bạn đã từng kỳ vọng!! 

Tất cả đều là sự dối trá và được đảng csvn khoé che đậy các móng vuốt nhọn của họ, và khoát lên người  cái lớp áo vì dân, vì nước..(?!).

Chúng tôi cũng xin được chia sẻ một câu nói đáng được làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong thiên đường XHCNVN - câu nói của cố Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiêu.

Trân trọng, cảm ơn võ sư Thanh X Nguyen, người đã cung cấp một số tài liệu về sinh hoạt môn phái cho hậu bối chúng tôi , để có thể ghi lại tiếng nấc nghẹn của sáng tổ Nguyễn Lộc và hai chưởng môn Lê sáng và Trần Huy Phong về những thế hệ Vovinam hiện nay trong nước.

Chúng tôi chỉ với trái từ ái của những người môn sinh trẻ, chân thành đóng góp một góc võ sử cho những võ sư chân chính, để viết những dòng chính sử cho môn phái Vovinam.

Đức quốc ngày 06.05.2021 Hậu bối Võ Thị Linh, nghiêm lễ!!


Thứ Tư, 5 tháng 5, 2021

  NGOẠI TRƯỞNG PHILIPPINE VĂNG TỤC TRƯỚC SỰ NGANG NGƯỢC CỦA TQ TRÊN VÙNG BIỂN TÂY PHILIPPINE

Phi Luật Tân, Bộ trưởng ngoại giao chửi thẳng mặt TQ: ĐM Tàu khựa cút ngay ra khỏi vùng biển Philippine !
Philippines Foreign Secretary Teodoro Locsin Jr. told China to “get the f—k out” of what is known domestically as the West Philippines Sea in a post on Twitter Monday amid rising tensions over the South China Sea.
Lần đầu tiên một ngôn ngữ lạ được dùng trong mặt trận ngoại giao của một quốc gia tự do trên thế giới. Bộ ngoại giao Philippine đã tỏ ra giận dữ, khi 200 tàu đánh cá của cái gọi là ngư dân (trá hình)? đã neo đâu xung quanh Đá Ba Đầu thuộc vùng biển thuộc Phi Luật Tân từ ngày 7.4.2021, nằm trong cụm đảo Sinh Tồn (Trường Sa) của VN và ở lại đó trong nhiều ngày tiếp theo.

Hình từ vệ tinh cho thấy các tàu cá của TQ đang neo đậu bất hợp pháp trong vùng biển của Phi



Trước đó, hơn 200 tàu Trung Quốc bị phát hiện đang neo đậu trái phép gần Đá Ba Đầu nằm trong cụm đảo Sinh Tồn Đông, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam từ hôm 7/3. Đội tàu này đã bật đèn sáng suốt đêm dù không có bất kỳ hoạt động đánh bắt nào.


Thật ô nhục vô cùng tận cho ngành ngoại của người anh em nối khố với đảng csvn, đó là đảng csTQ - bị anh chàng nhỏ chửi xáp mặt. Một đòn ngoại giao của Phi để đáp trả lại TQ bằng những lời nói chưa từng thấy trong ngành ngoại giao trên thế giới. Thật đáng đời cho Tàu khựa, một thứ ngang ngươc đang lội ngược tiến trình văn minh và hòa bình của thế giới.

Một nước nhỏ khác là Đài Loan, dưới sự lãnh đạo của Bà Thái Anh Văn. cũng đã nhiều lần tuyên bvới lập trường cứng rắn là không chấp nhận chính sách “một quốc gia, hai chế độ” của Bắc Kinh đề ra với Đài Loan từ nhiều thập niên qua.

Nhìn từ hai nước nhỏ là Phi và Đài Loan đã dám công khai đối đầu với chủ nghĩa bành trướng với gặm nhấm của Tàu Cộng, lấn áp chủ quyền các quốc gia lân bang nhỏ bé chung quanh dưới nhiều hình thức khác nhau.

Trong khi các đỉnh cao chót vớt của Pắc Bó, siêng năng bưng bô và đánh giày cho đàn anh Bắc Kinh từ thời hồ chí minh cho đến hôm nay. Trước chủ nghĩa bành trướng của TQ, luôn rút đầu vào mai rùa để bảo vệ hòa bình với đàn anh, không làm tình hình biển đông phúc tạp hơn. Đã vậy đám lãnh đạo thái thú An Nam, còn lớn tiếng minh xác trước mọi người là không liên minh với các nước khác để chống TQ, quả là một lập trường đã đưa đất nước VN đi sâu vào đầm lầy của TQ, mà không còn có cơ hội để thoát trung. Thật tủi nhục cho dân tộc và tổ quốc VN trong thời Nguyễn Phú Trọng.

Mười Sáu Chữ Vàng

Mười sáu chữ vàng, thật xót xa!
Vàng đâu chẳng thấy, thấy oan gia
Một tên hàng xóm chuyên ăn cướp
Lấn áp rình mò đất nước ta.

Mười sáu chữ vàng, thật oái ăm!
Vàng đâu chẳng thấy, chỉ hờn căm
Thù đảng rước voi dày mả tổ
Thù Tàu truyền kiếp hoạ xâm lăng.

Mười sáu chữ vàng, thật trớ trêu!
Vàng đâu chẳng thấy, thấy tiêu điều
Nhà tan, nước mất, đời nô dịch
Riêng đảng vinh hoa phú quý nhiều.

Mười sáu chữ vàng, nghe thúi hinh!
Toàn là vàng cục thấy mà kinh
Cái anh hàng xóm này chơi xỏ
Tặng đảng đàn em cứt Tiểu Bình.

(Thơ Phan Huy)

Bình luận từ Hậu Duệ VNCH Võ Thị Linh 05.05.2021