Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

Chiếc Ba Lô-Tài sản của người lính trận VNCH 


Một trong hai hành trang quan trong được trang bị cho người lính VNCH đó là chiếc Ba Lô, hai là hành trang tinh thần " tính nhân bản". Ba Lô để chứa quân trang quân dụng - sử dụng trong khi lên đường hành quân diệt đich, những vật thông thường được đựng trong đó là: Poncho, Quân Phục, áo quần lót, dây thắt lưng, quần đùi, vớ, gamelle, một bộ muỗng nĩa …v..v! Chiếc ba lô là loại quân trang quân dụng mà người lính VNCH được cấp phát ngay từ những ngày đầu bước vào quân trường đ theo học khóa huấn luyện quân sự. Khi về đến các đơn vị, người lính VNCH có thể còn được tái trang bị những quân dụng chuyên môn khác thêm, tùy theo tính chất đặc biệt của từng đơn vị như Nhảy Dù, Biệt Hải,  Biệt Kích hay các đơn vị nhảy toán thuộc Nha Kỹ Thuật Phòng 7 Tổng Tham Mưu.

 ĐỜI LÍNH.

Đời lính, anh làm bạn với gío sương,
Trùm áo poncho ngủ đêm chiến tuyến,
Không giường chiếu anh nằm trên bao cát,
Mưa nhạt nhòa, người lính lạnh đêm mưa.

Những lúc hành quân cơm gạo xấy khô,
Giữa rừng núi cũng no lòng chiến sĩ,
Cơm dã chiến trong chiếc cà men nhỏ,
Bi đông nước mưa tí tách hứng đầy.

Anh đi trong đêm đường rừng bùn lầy,
Chiếc đèn pin soi lập lòe bóng  tối,
Lúc soi đường, lúc dùng làm ám hiệu,
Chiếc dao găm rẽ lối những bụi bờ.

Áo giáp khoác vào có đủ chở che,
Anh may mắn thoát  đường tên mũi đạn?
Bảo vệ anh trên đầu chiếc  nón sắt ,
Những lúc nắng mưa, những lúc tử sinh.

Đời lính, ba lô như một người tình,
Người tình chung theo anh đi khắp chốn,
Chia sẻ với anh phút giây nguy biến,
Chung vui với anh lúc được nghỉ ngơi.

 ( Trích Thơ Nguyễn Thị Thanh Dương)

Ba Lô là một cái túi lơn đeo trên lưng người lính trận VNCH-Người lính chiến khi ra trận hoặc chuẩn bị lên đường hành quân, trên mình ngoài cây súng còn phải mang chiếc ba lô sau lưng, đựng tài sản của người lính thứ tài sản mà bất cứ ngươi lính nào cũng gần giống nhau. Những quân dụng có trên mình người lính trận gồm có hỏa lực cơ hữu, cây súng M16, 260 viên đạn, một số quả lựu đạn được móc trên dây TAB , bi đông nước. Ngoài ra còn có chiếc ba lô đựng một số  quân trang quân dụng khác cần dùng trong khi hành quân như những loại lương khô tức là loại cơm gạo xấy - Loại gạo sấy này gọn nhẹ dùng trên đương hành quân, chất lượng không được ngon như cơm nấu thường . Gạo xấy đựng trong bịch Nylon, nếu đổ nước lạnh vào thì sẽ là cơm nguôi...hay nước sôi vào bịch thì sẽ là cơm nóng...và nhưng thực phẫm đóng hộp khác. Một phần lương thực cho người lính được gọi là: "Ration", có 3 loại, đây là phần lương thực hay lương khô cấp phát cho binh sĩ trong các cuộc hành quân ngắn hay dài ngày, hay trên chiến trường nguy hiểm mà việc nấu nướng không có thể được. Gạo sấy thường được cấp đũ dùng trong mấy ngày hành quân ngắn hạn dưới 3 ngày: (9 bao gạo sấy, 9 hộp thịt 3 lát, một bột đồn trận, đôi ba cái quần, áo lót, hai ba đôi vớ, xà bông, thuốc lá đũ cho nhu cầu, nếu sang một chút thì thêm bánh kẹo, cà phê, một, hai lon sửa, cuốn nhật ký vài hình ảnh riêng tư - như ảnh người thân, người yêu để mơ màng trong lúc dừng quân, một cái sẻng cá nhân, Poncho, cái mền mỏng, cái võng nylon ...mang nhiều thì nặng khi phải trải qua những đoạn đường dài, s làm người lính mau thấm mệt còn mang ít thì thiếu dùng, do đó phải tính toán sao mang cho vừa với sức chịu đựng của cơ thể và phù hợp vói một quảng đường hành quân ngắn hay dài, chiếc ba-lô là tất cả những vật dụng riêng tư của người lính trận, được đựng gọn trong đó.

Bữa Ăn Tại Chiến Trường

Bữa ăn cho binh sĩ tại chiến trường thuờng gọi là C Ration ( Combat Ration= Khẩu phần tác chiến). Đây là loại lương thực đóng hộp và các loại bánh khô...Một hộp tương đương với mốt số lượng Năng lượng (Caloris) cần thiết cho mỗi người lính cho từng bữa ăn. 

Trong khẩu phần cá nhân C Ration thuờng thấy là lại loại B, có các loại B1-B2-B3. Trong các hộp loại B đó gồm các loại thức phẩm thay đổi ...... 
Như trong hộp khẩu phần loại B gồm: 
B-1 unit - Chicken & Noodles 
B-1 unit - Beefsteak 
B-1 unit - Ham, Fried 
B-1 unit - Turkey Loaf 

B-2 unit - Meat Balls w/ Beans in Tomato Sauce 
B-2 unit - Beefsteak & Potatoes w/ Gravy 
B-2 unit - Meat Balls w/ Beans in Tomato Sauce 

B-3 unit - Pork Steak 
B-3 unit - Boned Chicken 
B-2 unit - Meat Balls w/ Beans in Tomato Sauce 
B-3 unit - Beef, Spiced w/ Sauce 
B-3 unit - Ham & Eggs, Chopped 


Lương thực hành quân có chia loại: B1 cho bữa sáng (Breakfast) -B2 cho bữa trưa (Lunch) và B3 cho bữa tối ( Dinner ). Trong một hộp C ration thường có: 2-3 loại thực phẩm đóng hộp khác nhau, một ít bánh xấy khô..và một gói phụ (Accessory pack)...
Sau này thì ban tiếp liệu phát lung tung, không có thời giờ phân loại...Hay phát cho mỗi binh sĩ một thùng gồm cả 3 loại trên một lần. Quân đội VNCH  dùng lại thực phẩm đóng hộp này trong khoảng thời gian,...Nhưng kể từ khi Cục Quân Nhu cho thầu và các nhà sản xuất thực phẩm tư tại Miền Nam có sản xuất thêm các loại lương khô cho QL VNCH... 
Loại lương khô này biết nhiều là loại cơm gạo xấy. Loại này thì cũng tạm dùng được, mặc dầu chất lượng không được ngon như cơm nấu thường . Gạo xấy đựng trong bịch Nylon, nếu đổ nước lạnh vào thì sẽ là cơm nguôi...hay nước sôi vào bịch thì sẽ là cơm nóng... Các loại C ration hay lương khô chỉ phát cho binh sĩ trong các cuộc hành quân dài ngày, hay trên chiến trường nguy hiểm mà việc nấu nướng không có thể được. . 



CẤU TẠO CỦA CÁC LOẠI BA LÔ

Để thích họp với khí hậu nhiệt đới có độ ẩm cao, mưa nhiều nên cục Quân Nhu/ Tổng Cục Tiếp Vận đã cho ra đời những chiếc Ba Lô dựa trên các mẩu mã của quân đội Hoa Ký nhưng chất liệu có tĩ lệ nylon 100%. Bao gồm: Dây ba chạc, dây TAB, túi đựng bi đong nước uông, túi nước con rùa, túi nhỏ Buttpack, túi cứu thương, túi đựng đạn… Trong bộ trang bị cá nhân đó không thể thiếu chiếc ba lô nilon 3 túi nhỏ Tropical Rucksack, với đặc trưng là chiếc khung chữ X bằng thép phía sau.
Loại ba lô này được sản xuất phổ biến trong khoảng thời gian 2 năm 1968 và 1969. Được cấu tạo bằng nilon dày và thiết kế khoa học thích họp với thể tác nhỏ của người lính VNCH.

Chiếc Ba Lô mà người lính VNCH thường co đó là ba lô Tropical Rucksack có khung thép hình chữ X, chúng được chế tạo để căng và cố định phần lưng Ba Lô. Khi người lính mang ba lô trên lưng thì nhờ khung chữ X mà trọng lượng của ba lô sẽ được trải đều trên lưng, không dồn hết vào vai tạo cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái trong những chuyến hành quân đường dài.
Khung chữ X cấu tạo bằng loại thép đặc biệt, rất dẻo và có tính đàn hồi rất cao. Và khung thép chữ X cũng đã từng cứu mạng nhiều chiến sĩ VNCH khi đạn xuyên qua Ba Lô chạm vào khung chữ X bị cản dừng lại không còn xuyên qua da thịt. 
Khung chữ X trên Ba lô nhiệt đới giúp người lính cảm thấy nhẹ hơn khi hành quân
Khung chữ X trên Ba lô nhiệt đới Tropical Rucksack giúp người lính cảm thấy nhẹ hơn khi hành quân
Quai đeo ba lô Tropical Rucksack được cấu tạo rất tiện lợi, cho phép người lính trong trường hợp khẩn cấp có thể tháo ba lô khỏi lưng chỉ bằng một động tác kéo nhẹ sợi dây nhỏ tại quai đeo. Nắp ba lô được may thành một túi dùng để đựng bản đồ hoặc giấy tờ cá nhân.  
Ba lô có 2 túi nhỏ có khung thép chữ X là sản phẩm được thiết kế nhỏ nhắn hơn dùng riêng cho QL. Việt Nam cộng hòa.
Ba lô Lightweight Rucksack (balo trang bị nhẹ) được thiết kế với chất liệu nylon, có 3 túi nhỏ nhưng không có khung X. Được sản xuất hạn chế trong khoảng những năm từ 1966 đến 1969. Thân ba lô được buộc cố định trên một khung nhôm, khung nhôm này khá đa năng khi có thể buộc thêm nhiều món đồ khác trên đó như: thùng đạn, súng chống tăng M72, dao phá rừng, túi đạn, bình bi đong nước…
Một loại ba lô khác là Indigenous Rucksack được trang bị rất hạn chế cho lực lượng Biệt Kích,  khá giống ba lô của bộ đội CS. Vải may ba lô được tráng một lớp cao su nhằm chống thấm, loại Ba Lô này không có khung thép chữ X ở phía sau.

Trang bị cho những đơn vị nhảy toán của Nha Kỹ Thuật VNCH
Khi nhận lệnh hành quân các nhân viên toán nhận lãnh lương khô, và chuẩn bị cho công tác, những thức ăn như thịt gà đóng hộp được sấy khô làm chà bông cho nhẹ và mang theo dể dàng, gạo sấy theo cấp số mỗi ngày 2 bao lớn và 1 bao nhỏ, nhưng khẩu phần thường là 1 bao lớn là đủ dùng cho 1 ngày, những thức ăn khô như cá khô Đại hàn, những rau xanh và cà rốt đã sấy khô chỉ đổ nước vào là ăn ngay, vì số lượng trang bị cần thiết cho công tác, việc sắp xếp lương khô cho 10 ngày và 3 ngày dự trữ, áo quần lạnh, thuốc men, tất cả phải nhỏ gọn và nhẹ việc sắp xếp này đòi hỏi kinh nghiệm và truyền cho nhau trong những nhân viên đi tóan.
Có 3 phần chính trong việc trang bị.
- Ba Lô
- Dây đạn.
- Áo mưu sinh và trang bị trong quân phục hành quân và vũ khí.


Dây đạn của Biệt kích Nha Kỹ Thuật khác hẳn với các đơn vị tác chiến bộ binh khác, dây đạn này còn được gọi là dây STABO hoạc STABORIG, đây là loại dây có thể móc vào thang giây câu, hoạc giây kéo từ trực thăng, để triệt xuất trong trường hợp khẩn cấp, loại dây này trải qua nhiều thời gian để hoàn chỉnh cho công tác nhảy toán, mục đích tối hậu làm thế nào để đem nhân viên toán ra khỏi vùng giao tranh một cách an toàn trong thời gian ngắn nhất, tùy theo số ngày hành quân 5, 10, 20 ngày trang bị khác nhau về số lượng nước mang theo, và nhiệm vụ khác nhau của mổi chuyến công tác, điển hình sau mùa hè đỏ lửa, đơn vị Sở Công Tác Đoàn 11, 71 và 72 hành quân khu vực Quân Đoàn 1, vì địa thế và công tác, tiêu chuẩn mổi chuyến công tác là 10 ngày

Trên dây đạn (STABO) sẻ trang bị 5 hay 6 bi đông nước, những bao còn lại cho việc mang cấp số đạn là 300 viên cho Car15 (XM177).  Các trang bị quân dụng cho Biệt Kích Nhảy Toán Nha Kỹ Thuật cũng khác biệt, trong ba lô củng tùy thuộc vào chuyến công tác, ngắn hạn hay dài hạn và mục đích của chuyến công tác, tùy theo thời tiết của vùng hành quân, các nhân viên toán mang theo Poncho và mền đp loại mỏng và nhẹ có khi dùng những miếng vãi dù có thể trùm đầu, cổ và ngực.

Các Trang Bị cho Công Tác: 
(có thễ thay đổi tùy nhiệm vụ trong lệnh hành quân)
1- CAR15 hoạc AK47 hậu vệ CAR15 ống phóng và cấp số M79)
1- Balô loại vải không khung
5- Bidong nước cho 5 ngày hành quân (công tác 10 ngày sẽ lấy nước vào ngày thứ sáu)
1- Cấp số đạn 250 vien ( 10 băng cong )
1- Dây mini
5-Lựu đạn M67 
1- Mìn Claymore, dây điện và kíp nổ
1- Flair và 5 viên chiếu sáng
1- Panel 2 mặt đỏ và cam 
1- Địa Bàn
1- Máy chụp hình Penn 72 tấm hình 36 Pô.
1- Máy cấp cứu URC-10 tầng số báo động
1- Đồng hồ và địa bàn đeo tay 
2- Khăn tam giác quấn đầu và đeo cổ chống vắt.
1- Lưong khô 3 ngày trong áo mưu sinh
1- Cuốn bang keo đen (chống gây tiếng động)
1- Túi cấp cứu (morphin) thuốc cầm máu, đau bụng, băng cá nhân.
1- Pile dựự trữ cho máy truyền tin PRC-25
1- Gạo sấy và lương khô cho 10 ngày hành quân 
3- Ngày phụ trội lương thực (thời tiết xấu)
1- 3 gói Basto xanh
1- Kem đánh răng, bàn chải, kim băng, kim chỉ.
1- Dao Găm
1- Day bắt tù binh
1- Bộ Khoen chử D
1- Bàn đồ hành quân
1- Đèn pile .
1- Đèn strobe light
1- Viết và giấy
1- Bao instant Cafe muoi , tieu va duong
1- Ống nhòm.
1- Chai thuốc muổi ( trị muổi và vắt)
1- Cặp bao tay
1- Bộ đồ chống lạnh
1- Diêm quẹt
1- 2 đôi vớ, giấy vệ sinh.
1- Tấm vải dù choàng cổ, và võng cá nhân.
1- Poncho
1- Kiếng chiếu
Khi nhận lệnh hành quân Trưởng toán phối hợp cùng Liên Toán Trưỡng đi bay vào vùng tìm bải đáp chính thức để xâm nhập và bải phụ xử dụng trong trường hợp bải đáp chính không thực hiện được, lộ trình hướng đi theo phóng trình hành quân, bải bốc khi triệt xuất toán và khi có trường hợp khẩn cấp. 
Các toán viên còn lại nhận lãnh lương khô cho công tác hành quân, lương thực chính là gạo sấy gồm 2 bao lớn và 1 bao nhỏ cho mỗi ngày hành quân, thức ăn gồm có thịt và cá hộp củng như rau cải sấy khô, thịt hộp được làm chà bông cho nhẹ dể mang, một số thức uống như cà phê bột và xăng đặc dùng để đun nước nóng, thuốc lá mang theo tránh thuốc có mùi thơm như Ruby hoặc Capstan, nếu có mang theo chỉ dùng ngoài vùng hành quân, Toán thường mang theo Basto Xanh (De luxe) loại này ít mùi thơm và hút vào ban đêm lúc dừng quân và khi hút thuốc thường trùm Poncho để không thấy ánh lửa, hút xong tàn thuốc được cất vào bịch nylon gọi là bịch Dế, dùng khi không còn thuốc lá nhất là những ngày cuối cùng của chuyến hành quân, hoạc kẹt trong rừng vì thời tiết vì trực thăng không vào vùng để bốc Tóan được, lúc này Dế được đem ra xử dụng, vấn đề dấu vết và ngụy trang rất quan trọng cho Toán hành quân trong vùng cho nên việc cất Dế vào bao Nylon củng nằm trong công tác này, tất cả những phóng uế đều được đào đất và chôn kỷ càng, không xả rác và dấu vết được xóa cẩn thận mổi sáng khi thức dậy dùng lá cây để che những dấu ngủ vào ban đêm củng như xóa dấu vết trước khi di chuyển. Nguồn: http://doinhaytoan.blogspot.de/

Tất cả hình ảnh và tài liêu trong bài viết này đươc lấy từ các nguồn có trên internet và của Nha Kỹ Thuật Phòng 7 TTM-QL.VNCH.

Người lính già Trinh Khánh Tuấn 24.4.2018

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

VŨ HOÀNG CHƯƠNG KẺ SĨ CỦA NỀN VĂN CHƯƠNG VNCH 
(5. 5. 1916 – 6. 9. 1976)

Trong mùa quốc nạn 30.4 năm nay hàng ngũ hậu duệ VNCH chúng tôi muốn nhắc nhở và vinh danh tới thi văn nghệ sĩ Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ lớn của miền nam VN thời VNCH. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc của Việt Nam Cộng hòa, ngoài Ông còn vinh dự được vinh danh là “Thi bá” Việt Nam. Ông là một người cầm bút mà còn đầy đũ tiết tháo được xứng đáng đứng ngang hàng như các thần tướng VNCH đã tuẩn quốc trong ngày quốc hận 30.4.1975 và các chính khách khác của miền nam như cố Tổng Thống Trần văn Hương, cố Thủ Tướng Phan Huy Quát.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương một nhân cách lớn, là nhà thơ, nhà văn và là một thầy giáo đã chọn làm công dân VNCH cho đến hơi thở cuối cùng. Sau 1975 mặc dù được cộng sản mời gọi, săn đón của những cán bộ cao cấp của cs như Xuân Diệu, Tố Hữu, Huy Cận nhưng ông khước từ những ân huệ từ bên thắng cuộc, bất hợp tác và chửi thẳng vào mặt những tên văn nô như tố hữu, huy cận... bọn cộng sản bắt giam và ghép ông tội phản động, "phát hành lưu trữ văn hoá đồi truỵ"... Ông bị bắt giam vào nhà giam Chí Hòa...
GIAI THOẠI VỀ CUỘC GẶP MẶT VỚI CÙ HUY CẬN SAU 1975
Huy cận là bạn là đàn em của Vũ Hoàng Chương trong thập niên 40 (t.k20) khi ông chưa di cư vào miền nam năm 1954. Ngày 30.4 năm 1975 miền nam bị rơi vào tay cộng sản với cái gọi là  “đại thắng muà xuân”. Cù huy cận và Vũ Hoàng Chương có dịp lại gặp nhau trong hoàn cảnh éo le quốc cộng. Huy-cận được cử vào Saigon cùng với một phái đoàn với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.
Dĩ nhiên người mà huy-cận muốn gặp đầu tiên là Vũ-hoàng-Chương cũng vì tình bạn cũ và cũng nghĩ rằng nếu chiêu dụ được Vũ theo cách mạng thì mình lập được công lớn. Vì vậy huy-cận đã sửa soạn cuộc thăm viếng rất trọng thể. Lễ vật đến thăm Vũ-hoàng-Chương gồm một chai rượu quí, một lọ đầy thuốc phiện và cũng không quên mang theo một bức hình hồ chí minh. Rượu và thuốc thì để biếu bạn, còn bức hình thì huy-cận ước mong sẽ được Vũ-hoàng-Chương đề tặng cho mấy vần ca ngợi để có bằng chứng báo cáo lấy công đầu.

Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp sau bao năm xa cách. Vũ-hoàng-Chương đón huy-cận như một bạn cố tri nồng nàn vui vẻ. Sau khi Huy-Cận ngỏ ý muốn Vũ đề thơ thì Ông trầm mặc không nói gì. Huy-cận khi ra về có hẹn ba ngày sau sẽ cho người đến xin lại bức hình, Vũ-hoàng-Chương cũng chỉ ậm ừ tiễn bạn.
Đúng ba ngày sau khi nhân viên của huy-cận tới thì thấy trên bàn vẫn còn y nguyên hai món lễ vật và bức hình, Vũ-hoàng-Chương không hề đụng tới mặc dù rượu với thuốc phiện đối với Ông là rất quí hiếm. Còn bức hình thì vẫn chỉ là bức hình như khi đem tới,không một nét chữ đề. Được báo cáo lại, dĩ nhiên là huy-cận tím mặt. Nhưng Ông biết tính họ Vũ là ngưòi không dễ lung lạc nên cũng đành thôi.
Vũ-hoàng-Chương, quả là một người có khí phách tiết tháo đại diện cho giới văn học nhân bản VNCH. Ông có một cơ hội an thân nhưng Ông đã giữ tiết tháo không a dua theo thời cuộc. Thế là lại có thêm một cái ‘họa’, ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị vc bắt giam vào khám Chí Hòa, đó cũng chính là phần thưởng của phe thắng cuộc dành cho ông là nhà tù nhỏ khám Chí Hoà. Ông được giam chung cùng một số nhà trí thức của miền nam khác.
Với thân hình gầy yếu sẵn có, phải ăn cơm tù đạm bạc lại thêm nghiện thuốc thì làm sao mà Ông chịu nổi. Có thể nói bao nhiêu ngày trong tù, Ông đau yếu cả bấy nhiêu ngày. Sức lực Ông kiệt quệ dần dần, đã có lúc phải nằm liệt giường. Chính quyền “giải phóng” biết Ông không còn sống nổi bao lâu, nên sau thời gian giam giữ đã quyết định thả Ông về để tránh tiếng Ông bị bức tử trong tù. Về nhà gặp lại vợ con, dĩ nhiên là Ông mừng rỡ, nhưng trong đáy lòng hình như Ông có điều gì thỏa mãn vì tuy nằm bẹp trên giường Ông không có vẻ sầu héo bi lụy của một người gần đất xa trời. Một hôm Ông thố lộ là ở trong tù Ông có phần thích thú vì đã được Thủ-tướng bưng giúp bô vệ sinh cho mình. Mãi sau người nhà Ông mới biết bị giam chung cùng với Ông là Bác sĩ Phan-huy-Quát. Bác sĩ Quát đã có thời làm Thủ-tướng chính phủ dân sự do Cụ Phan-khắc-Sửu là Quốc trưởng. Vì mến thương Vũ-hoàng-Chương và vì lương tâm của người y sĩ, trong thời gian bị giam chung, Bác sĩ Quát đã tận tình chăm sóc cho nhà thi sĩ bất hạnh đau yếu, và không ngần ngại giúp đỡ cả việc vệ sinh hàng ngày. Đó là niềm vui cuối cùng của thi sĩ họ Vũ trước khi Ông lìa đời ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn, tức là 5 ngày sau khi được vc thả ra vì bệnh quá nặng.
Trong sự nghiệp văn chương thi phú của ông, người ta còn tìm thấy trong kho tàng văn hốa những sáng tác về những ngày đau buồn sau 30.4.1975 khi thời thế xã hội đổi thay số phận con người cũng bị long đong xoay vần theo vận mệnh của đất nước , cái gì là vật ngoài thân đều ko thuộc về mình , chỉ còn lại chút phẩm giá và lòng tự trọng ... tiết tháo của nhà thơ VHC khiến người sau phải nghiêng mình cảm phục .Chúng tôi xin lấy bài thơ “Vịnh tranh gà lợn” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm trong khoảng thời gian tranh tối tranh sáng của thời sự để tiêu biểu cho tâm sự của ông trước cảnh bát nháo của đàn khỉ Pắc Pó vào thành.

Bối cảnh của lúc ấy là, ngày Tết Bính Thìn, khi Cộng Sản vừa chiếm được cả đất nước và một chính sách trả thù phân biệt được áp đặt lên toàn dân tộc. Các viên chức, sĩ quan của chế độ VNCH bị tù đày trù dập đến gần cả triệu người...các khuôn mật lớn của văn nghệ sĩ bị truy bức, bắt bớ, sách vở bị tịch thu đốt bỏ. Lúc ấy, buổi hỗn quân hỗn quan, lúc thú vật đội lốt người, tác yêu tác quái thì sáng của ông đã ra đời:
“Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành 
Gà lợn om sòm rối bức tranh
Ràng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng 
Lòng lợn âm dương một tấc thành 
Cục tác nữa chi đừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.”

Những thành ngữ, tục ngữ của dân gian dưới tay nghệ sĩ đã thành đắc địa. Chữ không còn là một nghĩa nữa mà thành nhiều nghĩa, và, sự thâm trầm sâu lắng trong ngữ nghĩa làm bài thơ lột tả được một tâm sự chung mang của cả một thế cuộc tao loạn đầy bất trắc.
Trong tù, ông viết bài thơ cuối cùng của đời mình, gửi cho người thân, như linh cảm thấy một chuyến đi đã kề sẵn. Thơ như tiếng khóc nén thầm của những dòng thơ, từ dòng cổ thi từ thuở Nguyễn Du xưa xa, của nỗi niềm “bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”đến nỗi đau mất nước quặn thắt bây giờ:
“Thấm thoát vào đây tháng đã tròn 
Lông hồng gieo xuống nặng bằng non 
Một manh chiếu lìa hồn ngây ngất 
Ba chén cơm rau xác mỏi mòn 
Ngày tới bữa ăn càng nhớ vợ 
Ðêm về giấc ngủ lại thương con 
Bao nhiêu nước chảy qua cầu nữa 
Chẳng dễ gì phai một tấm son."

Con chim trước khi chết, tiếng hót bi thương. Người thi sĩ, trước khi lìa bỏ trần gian, lời kêu ai oán. Bài thơ thất ngôn bát cú gói ghém cả một tâm tình. Quốc phá, gia vong, thân trong ngục tù, nhưng, tất cả rồi sẽ trôi qua như nước chảy dưới cầu và không bao giờ phai nhạt tấm lòng son sắt với đời, với người, với dân tộc, với đất nước.
Một bài thơ khác của ông mà những người Việt Tự Do rất yêu thích và thường xuất hiện trong các văn đàn đấu tranh hải ngọai đó là bài thơ "trã ta sông núi từng trang sử".http://poem.tkaraoke.com/11858/Tra_Ta_Song_Nui.html.
Nghe nữ danh ca Hoàng Oanh ngâm:https://www.youtube.com/watch?v=RxDXqnNu9Sc

TIỂU SỬ VŨ HOÀNG CHƯƠNG
Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán tại gia đình, học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 vào học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Nguồn: http://www.tanhieptho.com/ti%E1%BB%83u-s%E1%BB%AD-va-san…/…/
Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm.
Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập Ban kịch Hà Nội cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà Hát Lớn và gặp gỡ Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng, thành hôn năm 1944.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, về Nam Định, diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, đi tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến, ruồng bắt cả nhà, hồi cư về Hà Nội, dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975.
Năm 1954, Vũ Hoàng Chương vào Sài Gòn, tiếp tục dạy học và sáng tác.
Năm 1959 được giải thưởng toàn quốc của chính quyền Việt Nam cộng hòa về tập thơ Hoa đăng. Trong năm này tham dự Hội nghị thi ca quốc tế tại Bỉ.
Năm 1964 tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok. Năm sau, 1965 lại tham dự Hội nghị Văn bút quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, lại tham dự Hội nghị Văn bút quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire.

1969-1973 là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam thuộc Việt Nam Cộng hòa. Năm 1972 đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc của Việt Nam Cộng hòa. Ông còn được vinh danh là “Thi bá” Việt Nam.
Hậu duệ VNCH thành kính dâng nén tâm nhang lên hương hồn ông để tưởng nhớ đến người chiến sĩ cầm bút tiết tháo bất khuất trên văn đàn VNCH trong suốt thời gian 1954 đến ngày miền bị thôn tính bị cs Bắc Việt cưởng chiếm miền nam VN
Các tác phẩm tiêu biểu

Các tập thơ:
Thơ say (1940)
Mây (1943)
Thơ lửa (cùng Đoàn Văn Cừ, 1948)
Rừng phong (1954)
Hoa đăng (1959)
Tâm sự kẻ sang Tần (1961)
Lửa từ bi (1963)
Ta đợi em từ 30 năm (1970)
Đời vắng em rồi say với ai (1971)
Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973)...

Kịch thơ:
Trương Chi (1944)
Vân muội (1944)
Hồng diệp (1944)

Tất cả hình ảnh và tài liệu về người thi sĩ Vũ Hoàng Chương được lấy từ trên internet. Cảm ơn tác giả các bức hình nguyên thủy ( chưa có ghép lá cờ VNCH)

Tổng hợp Hậu duệ VNCH Lê kim Anh 22.4.2018

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018

HỌC VÕ VIỆT (VOVINAM) LÀ YÊU NƯỚC VIỆT, ĐÚNG SAI??


Bài viết xin được chia sẻ với các đồng môn đang cuồng Vovinam mà còn đang mơ hồ lẩn lộn giửa  tình yêu môn phái và tình yêu thương đất nước giống nòi. Một điều cần khẳn định trước tiên là đất nước VN không phải do hồ chí minh dựng nên, mà là một dãy giang sơn gấm vóc do tổ Hùng Vương và tổ tiên của Viêt tộc đã xây dựng qua nhiều triều đại trong lịch sử với chiều dài 4897 năm.   
Yêu nước là một tình cảm thiêng liêng, quý báu mà bất cứ người dân nào cũng có. Một người yêu nước là phải có trách nhiệm làm đẹp và tiếp tay xây dựng mổi ngày một tốt hơn mãnh đất mà mình đang sống. Yêu nước là một thứ tình cảm thiêng liêng sẳn có trong tiềm thức của con người từ khi tiếp nhận được tiếng ru của mẹ VN - lúc còn nằm trong bụng mẹ. Tình yêu nước, mang tính bẩm sinh, sẽ được đánh thức và trỗi dậy theo từng khúc quanh của lịch sử dân tộc, để cùng chung vai sát cánh trong các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, chống độc tài phản dân chủ đang đi ngược với đà tiến về tư tưởng của thời đại và những nhóm quyền lực làm ung thối xã hội - tình yêu nước đó được hun đúc từ tinh thần của Hội Nghị Diên Hồng với lời thề quyết chiến cùng chung lòng giử nước. Truyền thống yêu nước của dân tộc ta là truyền thống đạo đức cao quý và thiêng liêng, là cội nguồn của hàng loạt các giá trị truyền thống khác của Việt tộc được tích lũy qua một thòi gian dài gần 5000 năm.  Truyền thống yêu nước là sức mạnh nội tại có sẳn trong một ngân nào đó được dấu kín trong trái tim của mổi người dân để bảo vệ, giúp quốc gia, dân tộc ta vượt qua những  khúc quanh quan trọng khi đất nước bị ngoại xâm lăm le thôn tính, để Việt tộc có thể tồn tại và phát triển. 

Lòng yêu nước chính là tình yêu quê hương, đất nước và tinh thần sẵn sàng dâng hiến khả năng của mình phục vụ cho lợi ích của tổ quốc. Như vậy, lòng yêu nước không có hiện diện trong võ Việt nam (Vovinam). Tóm lại Võ Việt Nam và lòng Yêu Nước là hai phạm trù khác nhau. Nếu có người nào đó nói: Học võ Việt  là yêu nước Việt thì cần phải suy nghĩ lại câu nói đó đúng hay sai?. Chúng tôi những môn sinh trẻ ở hải ngoại rất thất vọng, khi thấy một số các lãnh đạo của nhiều võ đường Vovinam trong nước đã lạm dụng cụm từ yêu nước khi quảng cáo cho Vovinam. Thậm chí đến ông Lê Quốc Ân, nguyên Phó Chủ tịch thường trực Liên đoàn Vovinam thế giới, Chủ tịch Liên đoàn Vovinam Việt Nam đã từng phát ngôn hết sức thiếu hiểu biết như sau: Học võ Việt, yêu nước Việt http://www.sggp.org.vn/hoc-vo-viet-yeu-nuoc-viet-238836.html

NƯỚC LÀ GÌ?

Nước là hình ảnh của non sông, giang sơn gấm vóc, lãnh thổ với biên giới, vùng địa lý khác với nhà nước - Nhà nước là một đơn vị của quyền lực chính trị, là bộ máy cai trị để bảo vệ quốc gia và người dân. Trong cuộc sống, con người có mối tương quan chặt chẽ với nơi mình sinh trưởng và những người cùng huyết thống chung quanh mình. Nước còn là phần đất đã cưu mang chúng ta từ lức chào đời, là phần lãnh thổ của những người có cùng một cha (patrie/fatherland) hay cùng một ông tổ (tổ quốc, 祖 國). Với người VN, quốc tổ là Hùng Vương, là tổ của giống dân có cùng nguồn gốc xuất thân được gọi là con rồng cháu tiên, gọi nhau là đồng bào. Nước của chúng ta có hình cong chử S nằm dọc theo biển đông dài 3.260 km với hai quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. Tình yêu đất nước được cụ Phan Bội Châu thể hiện như sau:

"Nay ta hát một thiên ái quốc
Yêu gì hơn yêu nước nhà ta
Trang nghiêm bốn mặt sơn hà
Ông cha để lại cho ta lọ vàng

Môn phái Vovinam chỉ là một đơn vị nhỏ có mặt trong đất nước VN có chiều dài lịch sử chưa tới 100 năm còn quá ngắn so vơi chiều lịch sử của "nước VN" thế nên, nếu yêu Vovinam không phải là người yêu nước, mà là yêu bộ môn nghệ thuật của nhà sáng tạo Nguyễn Lộc. Nếu nói yêu nước là phải biết yêu tiếng Việt văn hóa Việt, các anh hùng dân tộc đã từng bảo vệ mãnh đất thiêng liêng này như: Vua Hùng Vương, Hai Bà Trưng , Bà Triêu, Ngô Quyền, Lý Thương Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... Và yêu nước không phải là yêu Xã Hội (Chủ Nghĩa) như người cộng sản đã từng lý luận, yêu như người cộng sản VN, người ta gọi là mất trí, vì XHCN là mô thức xây dựng xã hội, không phải là đất nước VN sao có thể yêu được? đó là lý luận túng quẩn trồng tréo của Tuyên giáo đảng csVN.

Lòng yêu nước, thương nòi trở thành một giá trị bền vững của nhân cách người Việt Nam, biểu hiện ra thành hệ thống tổ chức xã hội bình ổn với các phong tục, đạo đức và tín ngưỡng dân gian. Trong đáy tâm hồn người Việt Nam, quan niệm về lãnh thổ, đất nước hòa quyện một cách tự nhiên, bền vững, với tình yêu quê hương, làng xóm, lũy tre xanh đầu làng rất đậm đà và nồng nàn

Lòng yêu nước, thương nòi cùng được nẩy sinh và gắn kết với yêu nhà, yêu làng, yêu xóm, yêu môn phái... Từ cấu trúc nhà, làng, nướcđồng bào...đã thể hiện tổng quát về sự đa dạng trong tư tưởng v tình cảm gắn bó sâu sắc của con “Lạc” cháu “Hồng” ngày hôm nay với tổ tiên dựng nước. Cách biểu hiện tình cảm tâm tư của người Việt cũng rất chơn chất, mộc mạc và giản dị được thể hiện từ trong ca dao, tục ngữ, từ trong những lời ru của Mẹ, rằng:"Bầu ơi thương lây bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn", “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”; “Thương người như thể thương thân”, hoặc “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”, “Lá lành đùm lá rách”… Mỗi khi đất nước đứng trước họa  xâm lăng của kẻ thù, thì người dân nước Việt, nam cũng như nữ, trẻ cũng như già, ở miền xuôi cũng như ở miền núi, hay ở tận vùng sâu, vùng xa, đều sẵn sàng dẹp bỏ mọi hiềm khích để chung tay lo giữ vững giang sơn gấm vóc, chung một lời thề “Sát thát”, bởi vì “Nước mất thì nhà tan”, môn phái cũng không còn.

Giá trị đặc sắc, độc đáo của lòng yêu nước, thương nòi của con người Việt Nam đã từng được khắc ghi trong những áng văn thiên cổ như “Chiếu Dời Đô” của Lý Thái Tổ, “ Thơ Bình Tống” của Lý Thường Kiệt, “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Đạo, “ Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi về tính nhân ái trong trong Việt đạo khi đói xử với kẻ thù chiến tranh, cách hành quân diệt giặc thần tốc của Nguyễn Huệ. Đó là những yếu tố cấu thành hồn Việt - luôn găn bó với con Hồng cháu Lạc tạo nên sức mạnh tinh thần tổng hợp cho Việt tộc trong suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng và giữ nước, được truyền liên tục  lại từ đời này qua đời khác, để góp sức tạo một xã hội công bằng, xóa đi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu,  đồng thuận vói nhau trong việc xây dựng  một đất nước có đầy đũ dân chủ tự do và bắt kịp đà tiến của thế giới văn minh đang trên đà phát triển.

Tóm Lại: Trải qua biến cố 30.4.1975 cho đến nay, người môn sinh trong và ngoài nước còn được bao nhiêu người còn có tấm lòng yêu nước thương dân? Nếu nói như các vị lãnh đạo VVN quốc doanh trong nước "yêu Võ Việt là yêu nước Việt", thì xin phép được hỏi các vị đó, tại sao một phần đất nước chúng ta đang lọt vào tay Trung Cộng sao không thấy các môn sinh VVN chúng ta lên tiếng hay có những hành động như nhũng người yêu nước khác trong quần chúng?? Những viêc nhỏ và tầm thường nhát như là lên tiếng về: thực phẫm có chất tẫm chất độc hại cho sức khỏe người dân VN cũng không thấy các môn sinh VVN lên tiếng để bảo vệ sự tồn vong của Việt tộc ? một hành động không đi ngược lại với nội qui của môn phái, trái lại còn đúng với tinh thần của một người Việt võ sĩ. Nếu có ai đó tò mò, ghé mắt vào các trang FB của các môn sinh VVN thì sẽ thấy được lòng yêu quê hương đất nước của ho có còn hay không?? Nếu có, thì con số hết sức khiêm nhường, chỉ đếm được trên đầu ngón tay - một nổi thấu tâm cang của mẹ VN khi nhìn về đám con hoang của mẹ đang đứng trong hàng ngũ VoViNam. 

Bất công xã hội mổi ngày một leo thang tại VN, đúng ra với một môn sinh được trang bị Võ Việt, trang bị bằng " Chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân" với bàn tay thép để can thiệp cho những người bị hà hiếp bởi bạo quyền, bênh vực cho dân oan để họ còn có quyền được sống và tồn với chúng ta? Bạo quyền đang hà hiếp dân ta khắp mọi nẻo đường đất nước nhưng chỉ thấy người môn sinh VVN hàng ngày đem bàn tay thép ra để bưng bô cho bạo quyền, đôi khi lại còn tiếp tay vơi bạo quyền (các môn sinh CAND) đàn áp đánh đập người dân yêu nước đám người đang xé tan hoang bảo vật trấn môn (CMTT) của Vovinam do thầy sáng tổ đã để lại cho các thế hệ đi sau. Thầy Nguyễn Lộc có sống lại nghĩ sao về đám con hoang này?? Tình yêu nước thương nòi của người môn sinh chúng ta là như thế đó sao? Những ai từng cổ động: "HỌC VÕ VIỆT-YÊU NƯỚC VIỆT" nghĩ sao khi đã thốt ra lời nói này? hay là chỉ biết nói để lừa bịp người dân?

Đừng lừa bịp người dân tình yêu nước
Để mất niềm tin vào Võ Việt Nam
Là người Việt Võ Sĩ hãy sống thật
Với tim từ ái và bàn tay thép

Nghiêm lễ - Nguyễn thị Hồng, 21.4.2018