Thứ Ba, 29 tháng 12, 2015

Tiểu Đoàn 3 TQLC - Dựng Cờ

LTS:Viết cho người binh sĩ Tiểu đoàn 3 TQLC về một chiến thắng với hình ảnh sống thực. Xin đóng góp phần nhỏ cho sử liệu về chiến thắng Cổ Thành Quảng Trị năm 1972 

MX Giang văn Nhân 


Hành quân tìm địch trong rừng

Ngày 24 tháng 8 
Sau một tháng rưởi nằm bịnh viện Lê hữu Sanh điều trị vết thương với bao kỹ niệm vui buồn của người thương bệnh binh về từ mặt trận Quảng Trị. Nhìn các người bạn đồng đội hiên ngang dũng cảm hôm nào giờ đây có người đã hiến dâng một phần thân thể cho đất nước. Có người mất hẵn ánh sáng cuộc đời, vào một ngày cuối tuần được tin báo cô bạn gái vào thăm đã vội vã nhờ anh bạn ngồi xe lăn hướng dẩn vào ẩn trốn trong phòng vệ sinh. Có người nằm im bất động, chỉ còn đôi mắt tinh anh rực sáng niềm tự hào lẫn chua xót. Có người bị cháy phỏng khắp thân hình, mình được thoa đầy thuốc mở nằm nhúc nhích trên tấm nylon. Ðó là hình ảnh những người lính TQLC tiêu biểu cho một phần nhỏ hình ảnh những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà vì bảo vệ sự tự do đã chấp nhận sự hy sinh vô bờ bến. Tuổi đời son trẻ phải xa gia đình, xa những người thân yêu, xa phố phường, ngày đêm lặn lội trong rừng sâu, dãy Trường Sơn trùng điệp, hay trong vùng sình lầy, nước phèn làm hoen màu áo trận. Họ quên mạng sống mình để bảo vệ an bình cho tha nhân. Trong hoàn cảnh hiện tại nầy nếu suy nghỉ sâu xa sẽ thấy thương họ thật nhiều.

Là người lính Tổng Trừ Bị, một năm 7 ngày phép thường niên mà bộ Tổng Tham Mưu qui định họ có bao giờ được biết đến. Hành quân gian khổ cận kề với cái chết chỉ mong ngày Tiểu đoàn về hậu cứ có được mấy ngày phép thăm gia đình, nếu còn độc thân thì thoải mái cùng bạn gái khỏi bị mấy ông quân cảnh quấy rầy. Người dân sống an lành nơi thành thị có ai biết rằng chiếc xe cuối cùng chở người lính từ mặt trận trở về vào trong doanh trại, như một thói quen khi cửa vừa đóng lại hiện rõ bảng cấm trại 100% đã được treo lên từ lúc nào. Ðơn vị ứng chiến cho bộ Tổng Tham Mưu. Dù vậy người lính vẫn một lòng chiến đấu có người đã vĩnh viễn ra đi và đồng đội còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu cho lý tưởng tự do.

Vì nhu cầu cấp thiết của mặt trận mà sư đoàn trách nhiệm, các thương bệnh binh sau khi xuất viện được đưa thẳng về Tiểu đoàn và được bổ sung ra hành quân trong chuyến bay ngay ngày hôm sau. 

Chiếc xe jeep Tiểu đoàn đưa Thảo và Ðại úy Anh khoá 21 Trường Võ Bị Ðà Lạt vào cổng Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn lúc đường phố Sàigòn đã lên đèn. Trong sân cờ vừa điểm danh xong số quân nhân bổ sung do các tiểu đoàn gởi đến. Thảo vác ba lô theo chân họ lên phòng thuyết trình trải tấm poncho rồi đặt lưng nằm xuống. Trong phòng có khoảng 70 Chuẩn úy tốt nghiệp từ hai khoá kế cận nhau tại Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Thảo hiểu tâm trạng của họ, thật ra đó là tâm tình chung của người lính QLVNCH xuất thân cùng một quân trường hoặc một trung tâm huấn luyện, được về phục vụ cùng Sư đoàn, rồi tạm chia tay về các tiểu đoàn, nay gặp mặt đầy đủ. Chỉ còn một đêm nay thôi, đêm cuối cùng vì sẽ không bao giờ tìm lại được đông đủ như vậy. Ngày mai đây ra chiến trường sôi bỏng, mặt đối mặt cùng kẻ thù, địch quân với hoả lực hùng hậu của cả khối Cộng Sản đưa sang, đạn pháo 130 ly như cơn mưa dai dẳng trút xuống thị xã Quãng Trị biết ai còn ai mất, chuyện tử sinh là lẻ thường tình xảy ra chỉ trong khoảnh khắc không sao tránh khỏi. Họ chuyện trò quên đi giấc ngủ. Những nụ cười vô tư và hồn nhiên khi nhắc lại chuyện quân trường của những người bạn trẻ, chính những người bạn trẻ nầy đã đóng một vai trò rất quan trọng cho cuộc chiến thắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong năm 1972.

Thảo trằn trọc không ngủ được. Thảo nhớ lại những ngày đang ở bịnh viện, đại đội Thảo đã mất mát khá nhiều tại mặt trận Cổ Thành Quãng Trị. Thiếu úy Lê văn Môn hy sinh, Thiếu úy Nguyễn văn Nhái bị thương chờ phân loại, Thiếu úy Nguyễn văn San đang điều trị tại quân y viện. Hạ sĩ quan và binh sĩ thiệt hại 40% sau tuần lễ đầu hoán đổi cho Tiểu đoàn 5 Dù. Thảo nhớ đơn vị, nhớ lại khuôn mặt của những người luôn sát cận với quân đội chính qui Bắc Việt. Thảo đứng dậy ra ngoài hành lang đốt thuốc hút và nhìn bầu trời xanh đầy ánh sao. Thảo bâng khuâng nghĩ đến câu chuyện của Uyên người bạn gái và cũng là người tình về chị Chính, bạn học chung lớp trường Gia Long. Chị Chính có người yêu bị động viên vào trường Hạ sĩ Quan. Anh ra trường chiến đấu dũng cảm. Trong trận phãn phục kích ở La Ngà, địch quân dù chủ động nhưng bị thảm bại, hàng chục xác để lại trên trận địa. Bạn bè anh hy sinh khá nhiều, phần chân trái anh bị gảy vụn, bác sĩ đành phải cắt bỏ. Ðám cưới đã kết thúc câu chuyện tình đẹp nhất trong thời chinh chiến nầy

- Nếu là em, em sẽ không làm như thế đâu. Em chỉ chấp nhận nếu đã là vợ chồng. Uyên nói với nụ cười mĩa mai.

Thảo chỉ biết im lặng 

Khoảng cách giửa hai người như mặt nước hồ bị khuấy động và làn sóng nước càng xa dần ra. Người lính Tổng trừ bị luôn luôn hiện diện tại mặt trận khốc liệt, nào ai biết được ngày mai hình hài mình sẽ ra sao? Thảo không bi quan mà cũng chẳng lạc quan chỉ biết sống tròn trách nhiệm của người đại đội trưởng, an nguy của gần hai trăm sinh mạng thì sá gì cái thân phận tầm thường cỏn con của mình.

Thảo cảm thấy có bàn tay choàng vai mình và một giọng nói thật thân mật
- Chào Trung sĩ,Trung sĩ chắc phục vụ lâu năm ở binh chủng và có nhiều kinh nghiệm chiến trường có thể kể cho anh em chúng tôi để học hỏi thêm.

Thảo quay mặt nhìn người sĩ quan trẻ, chấp nhận cấp bậc mới để cho tự nhiên rồi từ tốn kể cho các bạn trẻ nghe về cuộc chiến đang diễn ra ngoài Quãng Trị. Ðịch đã tạo yếu tố bất ngờ đồng loạt tấn công. Toàn bộ Sư Ðoàn 3 Bộ Binh và Thiết đoàn 11 triệt thoái khỏi vùng hoả tuyến. Tiểu đoàn 3 TQLC cùng thiết đoàn 20 chiến xa đã chận đứng và đẩy lui các cuộc tấn công vũ bão của Sư đoàn 308 cùng 2 trung đoàn chiến xa tại Ðông Hà và trên Quốc Lộ 9 gần Cam Lộ. Chuẩn úy Hải mới ra trường là sĩ quan OJT của Ðại đội 1 đã dùng M.72 bắn thẳng vào chiếc T.54 vừa chồm lên đầu cầu bờ bắc sông Miếu Giang, sau đó các binh sĩ đồng loạt bắn M.72 . Lần đầu tiên bị kháng cự, thiết giáp địch lui lại, vài phút sau đó cầu Ðông Hà được phá hủy. 

- Các quan nên nhớ rằng, các quan sẽ là những trung đội trưởng với cấp số thật lý tưởng khoảng 40 người, mọi quyết định của các quan rất quan trọng, chính các quan cũng như những người lính ở tiểu đội, trung đội mới quyết định chiến trường.Các quan mà lui thì người lính sẽ lui theo, và đại đội sẽ bể, các đại đội khác bể theo và tiểu đoàn sẽ rả ra từng mảnh. 
- Còn tinh thần anh em binh sĩ ra sao? Những bạn trẻ nầy hỏi 
- Anh em rất vửng tâm chiến đấu. Phút đầu tiên đối diện với T.54 có hơi bối rối, nhưng nay không còn nữa. Các trung đội trang bị đầy đủ M.72, ngoài ra đại đội còn có một tiểu đội săn chiến xa với súng 202. Người Mỹ lúc nào cũng viện trợ vũ khí sau khối cộng sản, đó là sự thật.

Ngày 25 tháng 8

Thảo thức dậy và rời khỏi phòng thật sớm vì phải đón Ðại úy Anh tận Phú Lâm. Thảo quay mặt để tránh cảnh chia tay của người vợ với con thơ tròn tháng. Thảo lái xe lao vào trong đêm tối. Tất cả đều im lặng, mỗi người đang có tâm sự riêng vì ai biết được ngày mai sẽ ra sao? Vừa vào cổng bộ tư lệnh cũng là lúc đoàn xe đang chuẩn bị lên đường. 

Phi vụ C.123 đã đưa toán bổ sung xuống phi trường Phú Bài. Không khí ngột ngạt của chiến tranh như bao trùm thành phố cổ kính. Hậu trạm của các tiểu đoàn đón nhận toán quân nhân bổ sung và đưa về thành nội Huế chuẩn bị hành trang, nhận lảnh áo giáp, mặt nạ, khẩu phần lương khô để rồi nhập vào cuộc chiến. Trên Quốc Lộ 1, người dân An Lổ vẫn vui vẻ cày cấy, đường vào Sịa vẫn an lành. Vượt qua giòng sông Mỹ Chánh để nhìn thấy cảnh tang thương mà chỉ có những người cộng sản vô thần mới nhẩn tâm bắn giết, tàn sát cả đoàn người chạy loạn. Ðối với họ những ai sống trong vùng quốc gia đều là kẻ thù 

Xác người nằm ngổn ngan, trên xe, trên bải cát trắng, có bà mẹ nằm mà tay vẫn còn ôm chặc hai đứa con thơ, tất cả đã rữa nát Trong khung cảnh nầy Thảo không biết tâm trạng của những người sĩ quan trẻ mới ra trường ra sao, nhưng với người lính dầy dạn chiến trường, cái chết là điều phải chấp nhận để tìm cái sống. Ðoạn đường nầy làm sục sôi lòng hận thù, càng nung chí phải chiến đấu để bảo vệ miền Nam, phải tiêu diệt hết người Cộng Sản sắt máu. Nhưng người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có lòng nhân đạo và tình dân tộc, thà bỏ sót cỏn hơn giết lầm. Người Cộng sản đã biết và triệt để khai thác tình thương dân của người quân nhân miền Nam để ẩn trốn, trà trộn trong dân, đôi khi lùa dân đi trước đở đạn cho chúng rồi tuyên truyền cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng.


Ðại Lộ Kinh Hoàng năm 1972


Xe chay qua Hải Lăng, thôn Cu Hoan có bờ đê Ruộng Nhi, nơi các binh sĩ trung đội 3 của Thiếu úy Nguyễn văn Nhái bố trí yểm trợ hoả lực cho trung đội 2 của Thiếu úy Lê văn Môn tiến chiếm bờ thôn. Trung đội 1 của Thiếu úy Nguyễn văn San cặp theo bờ đê bên phải đánh vào cạnh sườn. Ðại bác không giật 106 ly trên Chi đoàn Thiết vận Xa M.113 của Ðại úy Nghiệp Thiết Ðoàn 18 cày nát phía sau phòng tuyến. Ðạn M79 phá tung hầm ẩn núp, tuyến địch bị chọc thủng, Trung đội 3 tràn lên chiếm bờ thôn bên trái, tiêu diệt toán bắn sẽ, giúp Tiểu đoàn 8 TQLC tiến quân ngang bên trái. Ðịch rút chạy hiện rõ trên đồng cát trắng, vào xóm Thuận Nhơn và thôn Lương Chánh. Thảo miên man hồi tưởng những đồng đội giờ đây không còn nữa, sự hy sinh của họ trải dài cho từng bước tiến ra giải thoát 
Quãng Trị thân yêu.

Thảo vào trình diện Thiếu Tá Nguyễn văn Cảnh, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 3 TQLC. Bên ngoài bộ chỉ huy, Thượng sĩ Võ Lách thường vụ đại đội và một số anh em đang chờ đón Thảo. Nhìn gương mặt họ, một niềm thương cảm dâng lên.
- Ðại úy
- Ông thầy 

Tiếng gọi thật thân thương, thật ngọt ngào. Kể từ giờ phút nầy, giửa họ và Thảo nối lại mối dây liên kết. Mạng sống và binh nghiệp Thảo nằm trong tay họ, ngược lại Thảo trách nhiệm sư an nguy cho họ, phải suy tính làm sao hoàn thành nhiệm vụ mà giảm thiểu sự thiệt hại. Thảo trò chuyện với anh em để chuẩn bị tinh thần cho cuộc chiến trước mặt.

Ngày 26 tháng 8

Buổi họp thân mật cùng các Trung đội Trưởng, phân chia nhiệm vụ vào hoán đổi cho Tiểu đoàn 8 TQLC tại mặt trận Cổ Thành sáng ngày mai. 

Th/úy Lãm, Th/úy San, Th/úy Phán, Ch/úy Ngôn
Thiếu úy Nguyễn văn Lãm Ðại đội Phó
Chuẩn úy Trần trung Ngôn Trung đội Trưởng Trung đội 1
Thiếu úy Nguyễn văn Phán Trung đội Trưởng Trung đội 2
Chuẩn úy Lê đình Lời Trung đội Trưởng Trung đội 3
Chuẩn úy Khúc thừa Thế Trung đội Trưởng Trung đội 4
Chuẩn úy Ðỗ hữu Ðôn OJT với Trung đội 2
Chuẩn úy Trần tuấn Dũng OJT tại Đại đội.

Thảo luôn luôn nhắc nhở các bạn trẻ về qui luật tại Cổ Thành. Ban ngày canh gát, mở rộng giao thông hào, mọi sinh hoạt trong giao thông hào, thay phiên ngủ lấy sức. Ðịch quân từ trên bờ thành cao, dể quan sát và bắn sẻ, hạn chế tối đa ra khỏi giao thông hào. Ban đêm chuẩn bị tác chiến diệt chốt địch và bung rộng phòng tuyến mà mục tiêu chính là cắm lá quôc kỳ Việt Nam Cộng Hoà. 

Ngày 27 tháng 8 

Ðại đội 2 đã hoán đổi xong vị trí của Ðại úy Bùi phúc Lộc TÐ 8 TQLC. Pháo binh vẫn đều đặn bắn phá trên bờ thành. Ðại bác 130 ly địch nổ dồn dập chung quanh thị xã, nguời lính nhiều kinh nghiệm đã tránh được sự thiệt hại và an toàn trên phòng tuyến mới. Nửa đêm địch thăm dò phía Trung đội 1 nhưng bị đẩy lui bằng lựu đạn. 

Ngày 28 tháng 8

Thảo vừa chợp mắt khi hừng đông ló dạng, Các trung đội tuần tự báo cáo tình hình trong đêm 
- Nam Giao đây 21, velo solex ( vô sự)

Tựa lưng vào vách hầm chử A, Thảo rít một hơi dài điếu thuốc Ruby và nhấm nháp ly cà phê sửa nóng. Tội cho người lính chiến, trong cảnh nguy hiểm mà vẫn lo được cho ông thầy từng ly từng tí, đôi khi hơn cả người vợ, Thảo chưa có gia đình nhưng chỉ nghe lóm từ các bạn đồng ngủ. 
- Thiếu Tá, đêm rồi địch thăm dò, nhưng bị phản ứng mạnh. Con cái mới tới chưa ổn định và nhận diện rõ được địch tình 

Thảo trình bày cùng Ðệ Ðức, Thiếu Tá Tiểu đoàn Phó.
- Ði với anh tôi thấy an tâm. Mấy ông chuẩn úy mới nầy coi bộ ngon lành. 

Ðệ Ðức vừa nói dứt câu thì có báo cáo của Trung đội 2
- Nam Giao đây 22, ông Alpha uống rượu quá độ say hết ngồi dậy rồi. 

Chuẩn úy Ðổ hữu Ðôn vừa lên khỏi giao thông hào để quan sát vị trí địch trên Cổ Thành thì bị địch bắn sẽ ngay đầu tử thương.. Sự ra đi đột ngột của anh Ðôn làm cả đơn vị phải cẩn thận hơn khi di chuyển ra khỏi giao thông hào.

Ngày 29 tháng 8

Cũng như mọi hôm khi màn đêm buông xuống là cuộc thanh toán được thực hiện, cả hai bên đều đã sẵn sàng. Ánh trăng lưởi liềm làm mờ ảo khung cảnh nồng nặc uế khí, nhà cửa đổ nát, các trụ đèn cong quẹo hoặc gẫy đổ. Xác chết đã rữa chỉ còn là những bộ xương trắng nằm đón sương đêm. Ðạn pháo địch rót vào vị trí như một âm thanh quen thuộc 
- Nam Giao đây 21. Ðịch đang bò vào 

Thảo chụp ngay lấy ống liên hợp
- 21 đây Nam Giao, tôi nhận rõ, cho con cái xem tivi (vào vị thế tác chiến)
Ðại đội sẵn sàng, đạn đã lên nòng

Thảo trình với Ðệ Ðức xin hoả châu phía sau lưng địch để dể quan sát, bắn pháo binh vào các điểm tiên liệu để đàn áp tinh thần cán binh Cộng sản. Ðạn lướt qua đầu và nổ trên cao. Ánh sáng hoả châu đem lại cái ấm cúng và tự tin cho người chiến sĩ 
- Nam Giao đây 21, chúng tôi đã thấy địch rất rõ
- 21 đây Nam Giao, cố gắng tác xạ cho chính xác 

Ðạn bắt đầu nổ dòn. Hoả châu liên tục rọi sáng bờ thành. Pháo binh TQLC bắn rất đẹp. Mấy con gà cồ đầu bạc (đại bác 155 ly) của quân đoàn được điều chỉnh gần 10 hoặc 15 thước rất chính xác. Ðại pháo 130 ly của địch cũng tác xạ mãnh liệt vào phía sau chạm tuyến. Có trong hoàn cảnh nầy, người lính mới biết rõ giá trị của giao thông hào. Hầu hết hầm trú ẩn tránh pháo các binh sĩ đã thiết kế chử A. Trận chiến bắt đầu lúc 23 giờ. Giờ phút đó con người sống trong sự réo gọi hỗn loạn của các loại vũ khí, cái chết thoáng hiện thoáng mất , trước mặt những bóng đen gục ngã, lựu đạn và M.79 được xử dụng tối đa. Tiếng càu nhàu giọng miền Bắc của Hạ sĩ Nguyễn văn Lợi tiểu đội phó
- Cho chúng mầy về với bác và đảng.

Miệng nói tay làm, Lợi tặng ngay chúng 2 quả lựu đạn M67 rất nhanh và thành thạo. Hạ sĩ Nhất Nguyễn văn Dương Tiểu đội Trưởng vừa bắn vừa di chuyển đồng thời đôn đốc anh em cố gắng giử phòng tuyến. 

Ðịch bắt đầu ném beta, bắn B40 vào phòng tuyến, và xung phong. Ba cây đại liên M 60 giờ mới được xử dụng, Ðạn M79 nổ trên những căn nhà đổ nát, tạo nên sự sát hại mãnh liệt hơn. Xạ thủ đại liên và hai khinh binh của trung đội 4 biệt phái bị tử thương, địch tràn vào cắt đứt hai trung đội 1 và 3. Hạ sỉ Nguyễn ngọc Ninh Tiểu đội Trưởng cùng anh em còn lại rút về phía Trung đội 1. Phòng tuyến bị bể. Ðịch tràn lên nhưng bị Trung sĩ Nhất Nguyễn tấn Thành trung đội phó trung đội 1 cùng tiểu đội của Hạ sĩ nhất Lê văn Hùng chận đứng. Bên phía Trung đội 3, Hạ sĩ Nguyễn văn Phúc Tiểu đội Trưởng dùng lựu đạn tiêu diệt địch quân đang cố gắng tràn vô kẻ hở. Binh nhất Trần văn Voi, người lính mang hai giòng máu Việt Pháp, xạ thủ đại liên xiết mạnh cò, đạn bay là là trên mặt đất, một số địch bị trúng đạn nằm chết trước phòng tuyến. Ðịch quân không làm sao tiến thêm được. 
- Nam Giao đây 21. Ðang củng cố phòng tuyến phụ để phản kích.
- 21 đây Nam Giao, cố gắng giử phòng tuyến phụ, tôi thêm kẹo và tiền cho anh. 

Thảo tung tiểu đội săn chiến xa của hạ sĩ nhất Ngô văn Ðáo tăng cường cho trung đội 1 và khinh binh tiểu đội súng cối của Hạ sĩ Nông văn Quang tăng cường cho trung đội 3 đồng thời chuyển đạn dược lên phía trước.

Pháo Binh được điều chỉnh gần hơn nữa. Hai chục thước. Mười thước. Toán pháo thủ mấy con gà đầu bạc bắn tuyệt diệu. Ðạn lướt qua đầu và nổ tung trước phòng tuyến. Ðệ Ðức báo cáo tình hình cho Chương Thiện (Thiếu Tá Nguyễn văn Cảnh Tiểu đoàn Trưởng)
- Sao 27 (ám danh của Thảo), còn đủ tiền để đánh bài không? Chương Thiện hỏi qua điện thoại hữu tuyến.
- Trình 909 (ám danh cuả TÐT), tôi vẫn đủ tiền để chơi, xin đèn cầy và phở cho thật nhiều. 
- Tôi bắn tối đa, cần tiền thêm cho tôi biết ngay.
- Nhận rõ 909.

Hai tiểu đội của Hùng và Phúc đã khoá chặc không cho địch tràn thêm vào. Alpha Trần trung Ngôn và Lê đình Lời điều động quân vá lại phòng tuyến. Pháo binh rãi đều dọc theo bờ thành, màn đêm nhạt dần. Trên bầu trời hai phi tuần A37 đánh chính xác vào mục tiêu . Sự kết hợp nhịp nhàng của không yễm và pháo binh giúp các toán quân của đại đội 2 tiến lên với hàng rào lựu đạn chiếm lai phòng tuyến 
- Nam Giao đây 23, chúng tôi gặp lại nhau tại mái nhà xưa (chiếm lại tuyến củ). 
- Nhận rõ. Cho củng cố chổ ở. Gom góp mấy chai rượu (bị thương), sẽ có người mang đi. 

Các pháo thủ TQLC

Binh nhất Nguyễn đăng Thâu, y tá đại đội cùng toán biệt kích lên phòng tuyến di tản thương binh về sau nhà thờ Trí Bưu.

Thảo báo cáo về tiểu đoàn. Tất cả thương binh được M.113 chở ngay về Ngô xá. Số quân nhân bổ sung ra thay thế sau đó đuợc đưa lên tuyến đầu.

Trong cuộc chiến, khối bổ sung đã cung cấp kịp thời để thay thế số quân nhân bất khiển dụng, nhờ vậy phòng tuyến lúc nào cũng đầy đủ quân số. Người Ðại đội trưởng rất an tâm để tìm mọi phương cách hoàn thành nhiệm vụ được ủy thác. 
- Nam Giao đây 23, ba con chuột nằm bất động, thu 1 B40, 2 AK47. 
- Nam Giao đây 21, năm trự trong giao thông hào, tịch thu 1 RPD, 2 B40, 3 AK47. 

Ðại đội có 4 binh sĩ hy sinh và 7 người bị thương, 1 M60 bị phá hủy cùng một số mặt nạ, áo giáp. 

Thảo họp bàn cùng các trung đội trưởng phân tích về trận đánh. Sự thất bại trong cuộc tấn công chứng tỏ lực lượng địch suy yếu, không mở được các cuộc tấn công kế tiếp. Nắm vững vấn đề nầy, đại đội chủ trương sẽ từng bước diệt chốt để tiến sát bờ thành. 

Quảng Trị năm 1972

Ðịch rãi mỏng từng chốt nhỏ, bố trí trong các căn nhà đổ nát khó nhận biết. Các chốt nầy được sự yểm trợ của đại bác 82 không giật trên bờ thành. Thảo và các trung đội trưởng thảo luận để đi đến phương thức:

1. Chọc phá để xác định vị trí chốt 
2. Tổ chức các toán diệt chốt
3. Ðồng loạt tấn công các vị trí chốt
4. Dùng pháo binh để làm tê liệt các khẩu 82 ly không giật
5. Xử dụng lựu đạn
6. Ðánh vào ban đêm 

Ðịch trong Cổ Thành đang bị cô lập. Ðường về Triệu Phong bị Tiểu đoàn Trâu Ðiên khoá kín tại đập đá qua chợ Sải. Ðường xuôi thượng nguồn sông Thạch Hãn bị các đơn vị Dù kiểm soát ở Như Lệ. Ðường duy nhất là vượt sông Thạch Hãn đang bị pháo binh và không quân oanh tạc. Nhờ các yếu tố đó, sự kháng cự của địch rất yếu ớt. Lần lượt các chốt bị bứng đi, phòng tuyến được mở rộng. Màn đêm vừa buông xuống là anh em ôm lựu đạn bò đi diệt chốt. Thùng lựu đạn từ tiểu đoàn chuyển lên hàng ngày, đây là món khoái khẩu nhất tặng cán binh Cộng sản.

Ngày 7 tháng 9

Trung úy Nguyễn kim Chung xuất viện về lại tiểu đoàn, anh em đều có thơ đọc và tán gẩu trong giao thông hào, mặc cho đại pháo 130 ly hay đại bác 100 trực xạ từ chiến xa . Cuộc sống của người lính tác chiến thật hào hùng nhưng giờ phút nầy thấy họ hiền lành, ngây thơ như trẻ nhỏ.

- Nhã Ca, uống nữa đi. Ðệ Ðức rót rượu từ chai Hennessy do bà xả gởi ra. 
- Cám ơn Thiếu tá, thế là ấm giò rồi. Ly nầy là ly cuối. 
- Phải chi có Thạch Sanh thì chai nầy không đủ đó Ðại úy. Chuẩn úy Lý hồng Phát delo pháo binh cũng là em vợ của Nguyễn kim Chung ngỏ lời. 

Ngày 9 tháng 9 

Phóng đồ hành quân phản công chiếm lại thị xã Quãng Trị bày ra trước mặt. Ðệ Ðức hút thuốc ngồi ngắm . Ánh sáng vàng vọt từ cái bóng đèn chỉ còn là sợi dây tóc đỏ, nó đã mòn mõi cháy suốt đêm.

Ðịch quân bắt đầu pháo dữ dội, cả đại đội sẵn sàng vị thế chiến đấu. Ðạn nổ dòn phía đại đội 1 và đại đội 3. Thảo chỉ nghe tiếng la, tiếng gọi pháo binh của Ðại úy Phạm tuấn Anh. Anh Ðào điều chỉnh pháo thật táo bạo. Bổng dưng Đại đội 1 im lặng vô tuyến. Mươi phút sau có tiếng nói
- Chương Thiện đây Thạch Sanh, Anh Ðào say rượu rồi 

Ðại úy Anh được tản thương gấp về bịnh viện. Chiều hôm đó Ðại úy Anh đã vĩnh viễn ra đi để lại người vợ với đưa con tròn tháng mà trong buổi chia tay vẫn còn đậm nét nơi tâm hồn Thảo. Ðời người lính Tổng Trừ Bị là thế đó!
Ðài Phát Thanh và báo chí có đề cập đến một đơn vị của Tiểu đoàn 6 đã vào được Cổ Thành. 

Ngày 11 tháng 9 

Chi đội chiến xa của Thiết đoàn 20 vào tăng phái cho tiểu đoàn. Thiếu úy Quyền khoá 24 Võ Bị danh hiệu Tố Quyên đưa một M48 lên đại đội 2. Chuẩn úy Khúc thừa Thế Trung đội Trưởng súng nặng hướng dẩn xe vào vị trí ẩn núp an toàn vào ban đêm.

Ngày 12 tháng 9

Mấy hôm rày cánh quân của Tiểu đoàn 6 bất động. Ðiểm đóng quân của một đơn vị thuộc Tiểu Ðoàn 6 mà ban 3 Tiểu Ðoàn 3 cho Thảo lại là đơn vị Bắc Việt, nơi xuất phát các cuộc đánh phá đơn vị Thào. Sau mấy lần cho các toán nhỏ bò lên dò xét tình hình, đêm nay sẽ tiến lên tiêu diệt, mở rộng đường tiến sát vào cổ thành. 

Hai giờ sáng các toán diệt chốt đã bao quanh mục tiêu. Máy vô tuyến thỉnh thoảng sè sè tiếng nói.
- Chương Thiện đây Nhã Ca, Tất cả đã vào vị trí 
- Nhã Ca đây Chương Thiện, anh ráng làm sao cho tốt đẹp
- Nhận năm trên năm.

Những người lính nằm chờ đợi trong đêm, tất cả chong mắt thật sáng, tay nắm chặc quả lựu đạn M.67 hay con cóc mìn Claymor. Tuy trời đêm trở lạnh nhưng mồ hôi toát ra. Tiếng quân Cộng sản Bắc Việt đổi gác, tiếng ho và vài câu nói vớ vẩn

Thiết đoàn 20 chiến xa

- Ðồng chí canh gác cẩn thận, đồng chí chánh trị viên cho biết quân Ngụy quyết đánh cổ thành.

Làm sao có thể diển tả được cảm giác của người chiến sĩ trong lúc nầy, vì bảo vệ tự do, chống lại sự xâm lược và bành trướng của chế độ Xã hội chủ nghĩa nên đành phải ra tay.

Cánh quân của trung đội 2 bò về hướng Nam chiếm khu nghĩa địa ngăn chận đơn vị địch đến viện binh cho toán chốt.

Ðịch quân có loại CKC nòng dài, thêm máy nhắm trở thành khí cụ bắn sẽ rất chính xác nên khi trời mờ sáng địch ơ hờ vì biết ta không tấn công vào ban ngày. Pháo đội TQLC bắt đầu bắn vào cổ thành. Delo Lý hồng Phát theo sự điều chỉnh của các Alpha cho gần lại 50 thước đến khi đạn nổ sát bờ thành, pháo đội 20 tràng cày nát các vị trí yểm trợ cho chốt địch. Quả đạn đầu tiên thoát khỏi nòng đại bác trên M.48 nổ trên bờ thành là khẩu lệnh tấn công. Lựu đạn như những nắm cát tung vào mặt kẻ thù. Ðịch trở tay không kịp, hai chốt địch bị tiêu diệt.

- Nam Giao đây 21, nhiệm vụ hoàn tất, hạ sát 8 tên tịch thu 2 CKC , 2 B40 và 3 AK47. Gia đình có hai nằm (tử thương), ba ngồi (bị thương)

Đơn vị bên nghĩa địa được địch điều sang tiếp viện. Ðạn từ 3 khẩu M79 nổ mãnh liệt. Vùng đất an nghĩ nầy là mồ chôn xác giặc. Ðịch mất tinh thần, rút chạy vào bên trong Cổ Thành. 
- Nam Giao đây 22. Ðã diệt 20 chuột, thu 12 AK, 3 B40, 2 RPD, 2 SKS. Gia đình có 3 nằm và 5 ngồi. 

Thảo báo cáo về Tiểu đoàn
- Nhã Ca đây Chương Thiện, anh cho thừa thắng xông lên dựng cờ đi. 

Ðịch vào Cổ thành cố thủ và chống trả. Lấy vị trí địch làm công sự, các toán quân bố trí và cố gắng lục soát tìm tài liệu. 
- Trình Nam Giao, gia đình 21 lấy được bức tranh (bản đồ) của chuột 
- Trình Nam Giao, gia đình 22 lục soát tử thi có một tên là chính trị viên.

Không khí tanh mùi máu và thuốc súng như men chiến thắng, anh em cùng cảm thấy ngày dựng cờ chiến thắng đang chờ phía trươ'c. Thảo nhìn chai Hennessy còn nằm đó như một sự thách thức. 

Cuộc chiến càng ác liệt thì nhiệm vụ của người y tá đại đội càng cần thiết và nguy hiễm nhiều hơn nữa. Binh nhất Nguyễn đăng Thâu y tá biệt phái cho đại đội lắng nghe trên máy truyền tin, nơi nào có người say rượu là anh phóng đi ngay. Có thể bảo rằng anh Thâu là người duy nhất biết rõ hết các ngả ngách của giao thông hào, và đã đi vòng quanh tuyến đại đội không biết bao nhiêu lần. Ngày nào mà chẳng có người bị thương hoặc chết. Nhìn Thâu, Thảo chợt nghĩ không có một huy chương nào xứng đáng để tưởng thưởng công lao. Mà thật sự điều Thâu ước muốn là anh em thương binh được an lành và trở về. Người chiến sĩ ngoài trận tuyến không bao giờ nghĩ đến cấp bậc, huy chương, và họ cũng không bao giờ để tâm đến mặt trái của cấp bậc, mặt trái của tấm mề đay do xin xõ, bè phái hoặc luồn cuối. Lúc bây giờ, nơi chiến tuyến tình người biểu hiện một cách trọn vẹn, cao quý nhất. Chốt của địch nay trở thành tiền đồn của ta.


Không ảnh thành Ðinh công Tráng nhìn từ Trí Bưu


7 giờ tối Thảo cùng các đại đội trưởng về họp tại bộ chỉ huy Tiểu đoàn, Trung tá Ngyễn xuân Phúc Lữ đoàn phó Lữ đoàn 147 hiện diện và chủ toạ cuộc họp.

Thiếu Tá Nguyễn văn Cảnh trình bày vị trí của các đại đội cùng thành quả đã đạt được. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn phải chiếm cho bằng được Cổ thành trụớc thời hạn mà vị Nguyên thủ quốc gia đã ra lệnh trong ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1972 là phài lấy lại các vùng đất đã bị địch kiểm soát trong 3 tháng. 
- Các anh cần gì tôi sẽ yểm trợ tối đa để hoàn thành nhiệm vụ. Chúng ta chỉ còn 6 ngày nữa thôi. Thiếu tá Cãnh dứt lời. 

Nhìn thẳng các Đại đội Trưởng, Trung Tá Phúc tiếp lời
- Các anh đánh đấm thế nào vậy. Tiểu đoàn 6 đã vào được một toán nhỏ từ lâu rồi, mà các anh vẫn chưa làm được gì cả. Ðây là lệnh, ai không thi hành sẽ trả lời trước toà án quân sự. 

Vị Robert Lửa người mà báo chí thường ca ngợi cũng như khoá 16 trường Võ bị Ðà Lạt hãnh diện đang ở trước mặt chúng tôi.

Có thể vậy sao! 

Thảo chăm chú nhìn vào tấm không ảnh mới nhất mà tự hỏi thầm.

Cổ Thành nằm trước mặt, chung quanh là hào nước. Làm sao mà Tiểu đoàn 6 của Trung tá Tùng có đơn vị vào trong đó được. Lại thêm nữa đã được báo chí và đài phát thanh truyền đi khắp nơi thì họ ẩn trốn nơi đâu vì địch sẽ lục soát góc thành dễ dàng. Làm sao nhận tiếp tế lương thực. Ðã chọc thủng vào được, sao trung đội, đại đội không bám theo rồi đánh bung rộng ra. Ðây phải chăng là một hình thức chiền tranh tâm lý với người không am tường quân sự.

Thảo nghĩ đến những người lính đại đội 2 đã hy sinh mở rộng phòng tuyến đẩy lui địch tận sát bờ thành. Thảo mạo muội lên tiếng:

- Thưa Trung Tá, anh em chúng tôi đã chiến đấu nhiệt tình, thiệt hại cũng khá nhiều. Nếu Tiểu đoàn 6 có đơn vị nằm góc thành, xin cho tôi được phép dẩn đại đội theo đường đó vào ngay trong đêm nay. Câu nói của Thảo đã làm vị Lữ đoàn Phó bộc phát vài chử không đẹp ngoài ý muốn và trút cơn giận dữ lên các sĩ quan có mặt trong phòng họp

Rời bộ chỉ huy Tiểu đoàn, Quảng Trị (Trung úy Nguyễn văn Dương ÐÐT đại đội 4) chưởi thề cho vơi cơn bực tức, Thạch Sanh (Ðại úy Nguyễn văn Thạch ÐÐT đại đội 3) nhún vai như chẳng cần đời, Cần Thơ ( Trung úy Nguyễn kim Chung ÐÐT đại đội 1) chỉ mĩm cười gượng gạo, Thảo thì im lặng lầm lũi cùng hai cận vệ chạy trở về vị trí dưới cơn mưa pháo.

Thảo về tới hầm chử A thì nhận công điện mật của Chương Thiện đại đội phải tiếp tục đánh vào Cổ thành đêm nay.

Ngày 13 tháng 9

Hai Trung đội 21 và 22 vẫn là nổ lực chính, xuất phát vào lúc 1 giờ sáng. Thiếu úy Lãm điều động 2 trung đội dò dẫm từng bước thật nhẹ nhàng tránh gây tiếng động. Cánh quân vượt qua các tổ tiền đồn và tới sát đường Duy Tân.

Toán tiền sát của Trung đội 1 là Hạ sĩ Nguyễn văn Lợi, Binh nhất Nguyễn báu Quí, binh nhất Ngyễn Cân sẽ chiếm cầu vào ngay cửa Hữu. Toán của Trung đội 2 là Hạ sĩ Dư minh Chiếu,Binh nhất Thạch Rong, binh nhì Huỳnh ngọc Lanh sẽ lội qua hào nước. Hai toán chạy nhanh qua đường Duy Tân. Ðạn AK nổ rền. Pháo hiệu (Signal) đỏ bay vút lên cao. Ðó là hiệu lệnh báo động của quân phòng thủ. Ðạn từ trên bờ thành rải xuống mặt đường. Lựu đạn nổ dưới hào nước làm mặt đất run chuyển nhẹ. Kế hoạch bị địch phát hiện. Thảo đành cho cánh quân lui về vị trí. Cả ngày mệt mỏi từ mờ sáng chập tối, thêm vào đó hơn nữa tháng thức trắng đêm chống chọi với địch, diệt chốt, mở rộng đường tiến sát mục tiêu. Thảo biết anh em đã thấm mệt, Thảo xin Chương Thiện cho được hoán đổi về cánh A. Thiếu Tá Tiểu đoàn Trưởng chấp thuận nhưng Thảo phải để lại hai trung đội tăng cường cho Ðại úy Thạch.

Các trung đội của đại đội 3 bắt đầu thế tuyến cho trung đội 21 và 24. Riêng trung đội 22 và 23 vẫn còn ở lại tăng phái giữ phòng tuyến cùng các toán tiền đồn.

Buổi chiều mưa rét, Thảo về nhà thờ Trí Bưu chỉ là đống gạch đổ nát, chui dưới sàn nhà tâm hồn Thảo cảm thấy yên vắng khác lạ, có lẽ vơi bớt đi sự lo lắng và tù túng trong căn hầm chử A chật hẹp.

Ngày 14 tháng 9


(Binh sĩ ÐÐ2 dựng cờ ngày 15 tháng 9 năm 1972)


4 giờ sáng - Máy truyền tin vẫn im lặng, thỉnh thoảng lại vang lên báo cáo của Trung úy Trà đã gìàn quân dọc theo đường Duy Tân (cặp theo các căn nhà đổ). Ðịch báo động từ chập tối bắn vu vơ đang mõi mắt đợi chờ. 

5 giờ sáng - Pháo binh bắn quấy rối rỉ rả như mọi đêm để đánh lừa địch. Cùng lúc đó các toán nhỏ lội nhè nhẹ qua hào nước. Cơn bảo Elsie gầm thét, giọt mưa như thác đổ làm bức màn che các toán cảm tử bò lên bờ thành đổ nát. Lựu đạn nổ đồng loạt trên thành, tiếng la xung phong vang dậy trong đêm. Trung úy Trà cùng hai trung đội của Thiếu úy Văn tấn Thạch vá Thiếu úy Vũ duy Hiền như cơn sóng thần ập vào thành. Tiểu đoàn 3 đã phá vở phòng tuyến địch nơi cửa Hữu. 

Thảo thức giấc và chăm chú theo dõi từ lúc toán tiền sát bò lên thành. Thảo đã cho cả đại đội sẵn sàng tiếp ứng cho đại đội 3 
- Nhả ca đây Ðệ Ðức, cho con cái lên đánh canh bạc chót. 
- Nhận Ðệ Ðức năm trên năm.

Thảo truyền lệnh các trung đội tiến lên theo đội hình 22, 23 ban chỉ huy đại đội, 21, 24. Pháo binh 130 ly và đại bác 100 ly trực xạ từ Ái Tử không cản được đoàn quân. Trung đội 22 chiếm cổng chính cửa Tiền đường Lê văn Duyệt. Tinh thần cán binh Cộng Sản đã suy sụp, chống cự yếu ớt và rút về cố thủ ở cửa Tả đường Phan đình Phùng. Chai Hennessy được khui ra và chuyền tay cho các binh sĩ. Bên cánh trái Tiểu đoàn 6 bắt đầu tràn lên thành và tác xạ về phía Tiểu đoàn 3. Ðệ Ðức tức giận gào to trong máy truyền tin.

- Chương Thiện bảo mấy đứa con của Thái Dương (Trung tá Tùng TÐT) còn bắn cái con mẹ gì nữa. Sói Biển đầy cả thành rồi. Có mấy đứa say rượu nè. Bố chúng nó. 

Ðịch xử dụng tất cả hoả lực còn lại để tàn sát đoàn quân chiên thắng. Tiểu đoàn 7 đã tiến ngang bên dưới đường Lê văn Duyệt, một số cán binh Cộng Sản chui ra đầu hàng.

Ðạn pháo và bóng đêm cũng như sự mệt mõi không làm người chiến sĩ dừng bước, họ chiến đấu liên tục, tiêu diệt các tàn quân địch còn cố thủ. Sau gần 24 giờ chiến đấu không nghĩ, những người lính đại đội 2 Tiểu đoàn 3 TQLC đã dựng ngọn cờ trên cổng thành cửa Tả vào mờ sáng ngày 15 tháng 9 năm 1972. Trung sĩ Trương văn Hai trung đội phó trung đội 22 đã hy sinh trong giây phút hào hùng nầy. 

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã chiến thắng, chiếm lại Quảng Trị trước hạn định 3 ngày. Sự thành công nầy là do đóng góp của Sư đoàn Dù (Tích tường, Như Lệ), Biệt Ðộng Quân (Liên đoàn 7 ở chợ Sãi), Không Quân, Hãi Quân, Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù, Thiết đoàn 20 chiến xa, Thiết đoàn 18 Kỵ Binh, Pháo Binh 155 ly… và Sư đoàn TQLC là nổ lực chính. 

Chiến thắng cổ thành Quãng Trị đã được nhiều người viết do tưởng tượng phong phú hoặc do nghe người khác thuật lại. Tôi là một trong những chứng nhân và cùng các chiến hữu TÐ 3 TQLC tham dự chiến thắng hào hùng nầy. Nhưng sự thật đã bị đão ngược, những trung đội trưởng chạy đặc cách đều bị loại, một số huy chương cấp bậc rơi rớt trên vai trên ngực những người đánh giặc Tâm lý chiến hoặc bè phái. Biết bao nhiêu chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì bảo vệ tự do. Sự hy sinh cũa các vị anh hùng đó đem lại bổng lộc vài cá nhân. Ðể phù hợp việc tô bóng một cá nhân, thay đổi tên họ cũng như đơn vị của các anh em binh sĩ trong hình dựng cờ. Việc làm đó lịch sử sẽ phê phán. 

Trích hồi ký “ Người lính Tổng Trừ Bị”
MX Giang văn Nhân


Cuộc Sống Vươn Lên ghi lại, 29/12/2015
Khóc Bạn Già Không Quân

Để tưởng niệm Đại Tá Không Quân Nguyễn Quang Tri



Sáng sớm ngày lễ Tạ Ơn, KQ Trần Dật gọi điện hỏi tôi, có gì lạ không, trả lời không, lại hỏi có biết gì không, lại trả lời không! Ông Dật Dờ rào trước đón sau, dặn dò nầy nọ, rôi ông yêu cầu tôi phải giữ lời hứa là không được tiết lộ, không được phổ biến khi nghe ông báo tin động trời, là Niên Trưởng (NT) Nguyễn Quang Tri, bút hiệu Gman, Tarin, ông già Ba Tri..., đã vút bay vào hư vô không kèn không trống!

Vì chữ tín, tôi giữ kín tin buồn nầy.

Mới hôm qua, KQ Trần Ninh, trong Ban chủ biên Lý Tưởng Úc châu, email cho tôi để hỏi thăm về tin buồn: “Vừa qua, tôi nghe được tin NT Đại Tá Nguyễn Quang Tri hiện sống ở Lakewood Nam Cali đã qua đời, không biết anh có biết hoặc có tin tức gì không, xin cho Lý tưởng Úc châu biết với.”

Và tôi cũng trả lời như những gì mà KQ Trần Dật đã căn dặn.

Một ngày sau, KQ Ninh gởi cho tôi bài viết của NT Bồ Đại Kỳ nhắc đến những kỷ niệm của hai anh thời du học bên Pháp. Bài viết đã gián tiếp báo cho tôi biết về sự ra đi của NT Tarin là đúng sự thật và KQ Trần Ninh cũng yêu cầu tôi không nên phổ biến cho đến khi Đặc San KQ Bắc Cali phát hành (và có thể cũng y chang như yêu cầu của Lý Tưởng Úc Châu). Tôi đọc bài viết một mạch và gọi ngay KQ Nguyễn Quí Chấn, đương kim Chủ Bút Đặc San KQ Bắc Cali để hỏi thăm là Đặc San có cần thêm bài viết để tưởng niệm NT Nguyễn Quang Tri không, thì được trả lời là rất nên vì NT Nguyễn Quang Tri là một trong những phi công khu trục tài ba của KLVNCH...

Suốt trên 10 năm phục vụ trong Ngành Quan Sát chỉ đồn trú trong 3 căn cứ không quân Đà Nẵng, Nha Trang và Pleiku, nên tôi không biết nhiều phương danh các niên trưởng và các chiến hữu khác ngành và khác căn cứ. Nếu không đi tù, và nếu không ở chung trại Hà Tây (Bắc) và Xuân Lộc (Nam) thì tôi không thể biết ông “bò lục” KQ Nguyễn Quang Tri. (Bò lục, quân cờ domino. Tiếng trong tù, bò lục để chỉ quý NT mang cấp Đại Tá, bò ngũ Trung Tá v.v...). Trại Hà Tây giam các NT bò lục riêng. Giữa các khu đều bị cấm “quan hệ linh tinh” nên khó gặp nhau. Ngày lễ ngày nghỉ thì mới hy vọng gặp.

Tôi biết cấp bực của anh Tri là Đại Tá vì anh ở khu bò lục. Chỉ biết đại khái trước 1975, anh làm việc tại Bộ Tư Lệnh, Khối Phòng không! Chỉ có thế. Sau nầy, khi qua Mỹ, đọc những bài viết của anh đó đây, tôi mới vỡ lẽ anh là một hoa tiêu khu trục tài năng và nhiệt huyết, từng đào tạo nhiều hoa tiêu giỏi cho quân chủng (như KQ Lê Bá Định) và từng chỉ huy Đệ nhất Phi Đoàn Khu Trục 514 Phượng Hoàng gồm những phi công tài ba của ngành Khu Trục KLVNCH.

Thời ở trại Hà Tây và trại Xuân Lộc, dáng anh Tri đen và gầy tong. Anh ít nói và hay cười. Anh nói giọng miền Nam nhỏ nhẹ và điềm đạm nên gọi anh là “chị Ba Tri” có vẻ thích hợp hơn là “ông già Ba Tri”!

Chúng tôi cùng ra trại vào năm 1988 thì phải. Tôi không biết anh đi chương trình HO năm nào. Năm 1992, tôi định cư bên Saint Louis bang Missouri thì mới biết anh đang ở Cali qua các bài viết của anh trên các Đặc San Không Quân.

Vào khoảng năm 2000, sau khi về hưu, anh tìm tòi học hỏi về vi tính và đùng một cái, anh cho ra đời trang nhà mang tên “Bạn Già Không Quân”, với chủ trương thắt chặt tình quân chủng, giữ vững lập trường và cùng học hỏi giải trí những điều bổ ích ở tuổi cuối đời. Bạn Già Không Quân nhanh chóng trở thành một Tổ Ấm và là Nơi Gặp Gỡ hằng ngày cho hầu hết các canh chim tự do xa xứ. Đại đa số KQ có tuổi đều vào xem và viết bài tô điểm cho trang nhà nầy, mà theo tôi thì nhà văn KQ Mệ, tức niên trưởng Đại tá Trần Phước và niên trưởng Đằng Vân (Đại tá Đặng Văn Hậu)..., là hai trong những nhân vật cột trụ của BGKQ. Hình như cái tên bình dị thân thương của trang nhà là do Mệ gợi ý đặt tên cho đó!

Cũng có người hiểu lầm “Bạn Già Không Quân” chỉ dành cho mấy ông già KQ lẩm cẩm. Không, không phải thế! “Bạn Già” mà theo mấy niên trưởng từng du học bên Pháp thì chữ nầy dịch từ chữ Phú Lảng Sa là “Mon Vieux”. Mon vieux là loại bạn thân nhất, tri kỷ nhất và thủy chung nhất. Trong thời chiến, không quân yểm trợ hỏa lực cho Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Động..., những chiến hữu nầy trước sau cũng vẫn là những “bạn già” của KQ!.

Một điều đặc biệt là, niên trưởng Nguyễn Quang Tri tự bỏ tiền ra mua đất cất nhà và trang bị máy móc để trở thành trang chủ. Anh cho tôi biết là anh không muốn bị ràng buộc (hoặc phụ thuộc) vào các tổ chức hay hội đoàn nào. Vì là một trang nhà private, anh chỉ post những bài viết hoặc tài liệu thể hiện đúng quan điểm và lập trường và sở thích của anh. Nói cho cùng, quan điểm, lập trường và sở thích của anh cũng là của đại đa số anh em không quân chúng tôi.

Vào khoảng 2005, 2006 gì đó, trang nhà BGKQ gặp trắc trở sao không rõ mà có tin đồn rằng, cá nhân tôi sẽ được trao “ấn kiếm” để tiếp tục điều hành trang nhà BGKQ ! Tội giật nẫy mình như bị chạm điện! Tự xét mình không sao có đủ khả năng chuyên môn, kiến thức và kinh nghiệm về quân chủng như anh Nguyễn Quang Tri thì làm sao mà handle nỗi một trang nhà với nhiều tính kỹ thuật và nhiều áp lực từ mọi phía? Sau cuộc điện đàm, tôi giới thiệu với anh Tri Queenbee Đặng Quỳnh vẫn thường thấy xuất hiện trên các trang điện tử KQ, là ngườii có khả năng và có lập trường Quốc gia Dân tộc, nếu được thì sẽ thay anh điều hành trang nhà BGKQ. Anh Tri OK.

Nhưng sau đó, không biết lý do sao, câu chuyện bàn giao BGKQ không thấy đề cập đến, và BGKQ lặng lẽ bay vào hư vô tháng 7 năm 2007 thì phài!

Khi hay tin buồn nầy, tôi nhớ có ghi một vài súc cảm nói lên lòng biết ơn về đóng góp và sự đột tử của BGKQ qua tựa đề “Khóc Bạn Già Không Quân” và gởi cho anh Tri. Bài thơ nầy tôi không tìm thấy lưu trong máy computer của tôi nữa. Quý niên trưởng hoặc quý chiến hữu nào con lưu trữ thì xin vui lòng phổ biến để cùng tưởng niệm một cánh chim từng “Sắt son một dạ với Không Gian” (thơ KQ Lê Bá Định) như NT Nguyễn Quang Tri .

Nhắc tới KQ Lê Bá Định, nguyên Không Đoàn Trưởng KD72CT, từng bị phao tin đồn là đã...quy tiên! Khi đọc mẩu tin không vui, anh Tri liên lạc với tôi lúc đó còn bên Saint Louis, là làm sao tìm cách liên lạc với mấy anh em KQ bên quê nhà để nhờ xác định thực hư chuyện KQ Định như thế nào. Qua lo lắng của anh, các không quân bên nhà đã gặp mặt KQ Định và gửi qua Mỹ một tín hiệu vui. Hú hồn! Qua việc nầy, tôi biết anh Tri rất thương người đàn em tài hoa mà cũng ngang tàng như...anh! (Nếu không ngang tàng, thì làm sao một phi công khu trục đầy khả năng nhiệt huyết, được đào tạo kỹ càng mà không được thi thố tài năng trên chiến trường mà cho làm việc tại Bộ Tư Lệnh với chức vụ Trưởng Khối Phòng Không?!!)

Tháng 10 năm 2007, “Cánh Chim Tự Do”, hậu thân của trang nhà BGKQ ra đời, nhưng trên một diện tích nhỏ hơn. Cái tên CCTT là do chúng tôi gợi ý, không ngờ lại được bà xã của anh Tri tâm đắc, và anh chọn cái tên “Cánh Chim Tự Do” trong nỗi hân hoan. Trong thư mở đầu, trang chủ CCTD bày tỏ chủ trương tóm gọn như sau: “Hướng đi của CCTD nhằm gợi lại một số nhu cầu cải tạo lại đất nước Việt Nam yêu dấu của chúng ta. Đất nước chúng ta bây giờ đã rơi vào hố thẳm của trụy lạc, của nghèo đói...”

Ngoài ra, CCTD còn chủ trương nâng cao kiến thức qua học hỏi lẫn nhau, qua những bài vở bổ ích để xây dựng cuộc sống của tuổi về già, giúp chúng ta có thêm phương tiện để tìm cho mình một cuộc sống có ý nghĩa hơn...

Dù nhiều dù ít, BGKQ và CCTD đã giúp kết nối lại với nhau những chiến hữu KLVNCH trên toàn thế giới và ngay cả tại Việt Nam. Rồi cũng như BGKQ, tôi cũng không hiểu vì lý do gì mà trang nhà CCTD lại biến mất để đến khi hay tin ngày sắp hạ huyệt cố Đại Tá KQ Phạm Long Sửu, anh Tri lại gởi cho tôi bài viết “Phản Lực cơ J20 của Trung cộng” và nhờ post gấp lên Hội Quan Phi Dũng hay Cánh Thép để tặng hương hồn phi công khu trục Phạm Long Sửu. Tôi hì hục post hoài mà chẳng được, sau cùng mới biết là trang chủ HQPD đã giúp thực hiện việc nầy rồi. Nhắc lại điều nầy để thấy cái “tinh thần học hỏi” của các phi công khu trục là cần thiết vô cùng, dù sinh hay tử.

Viết đến đây, tôi chợt bồi hồi. Một con người dung dị thủy chung và can trường, một con người có tấm lòng rộng rãi như anh, được nhiều anh em quý mến mà sao tới lúc bịnh hoạn anh lại không cho anh em chúng tôi biết để thăm gặp hoặc giả để nói lời vĩnh biệt?

Nay anh đã âm thầm ra đi, không lễ nghi quân cách, không vòng hoa điếu văn, không cả tiễn chào vĩnh biệt. Tôi không nghĩ anh đã chọn được một cõi trời riêng biệt cho mình, với anh, cõi trời nào cũng chỉ có một Tổ Quốc Việt Nam. Tôi trộm nghĩ, có thể vì anh thương những “bạn già”, bị giới hạn đủ các cái, nên anh không muốn bạn già suy sụp tinh thần một khi ghé thăm anh. Tôi mong điều tôi nghĩ phù hợp với cái nhìn vô biên, cái tâm vô lưọng của một Phượng Hoàng!

Và tôi thầm cầu chúc hương linh Đại Tá Nguyễn Quang Tri, Cánh chim Tự Do, phi công của Đất Nước, sớm an nghĩ đời đời bên Bạn Già Không Quân ỡ chốn Vĩnh Hằng!

KQ Võ Ý

tháng 11/2012


Cuộc Sống Vươn Lên viết lại 29/1272015

Áo Dài Việt Nam qua các thời đại

Tiếng hát của Duy Trác tha thiết:

Nắng Sài Gòn em đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu mầu aó ấy vô cùng
Anh vẫn yêu mầu aó ấy vô cùng….
Bản nhạc "Áo lụa Hà Đông" của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ từ thơ Nguyên Sa, thơ và nhạc đã khiến người nghe không khỏi bâng khuâng, quyến luyến một hình ảnh quyến rũ và duyên dáng của giai nhân trong chiếc aó lụa Hà Đông, một địa danh nổi tiếng về ngành dệt lụa. Chắc chắn chiếc aó mà Nguyên Sa mô tả đây phải là chiếc aó dài, chứ không thể là áo cánh hay aó bà ba đuợc. Vẫn biết y phục của phụ nữ Việt Nam có ba bốn loại aó. Aó bà ba mà người miền Nam thường mặc ở trong nhà hay đi chợ, giống như cái aó cánh của phụ nữ miền Bắc và miền Trung vậy. Thế nhưng, tất cả ba miền, khi người phụ nữ đi dự lễ, đình đám, tiệc tùng… thì hầu như các bà, các cô đều mặc aó dài cả.

Chiếc áo dài Việt Nam đã đuợc ca tụng qua bao nhiêu triều đại và quả đúng như vậy, vì chiếc áo dài khi đuợc mặc trên mình người thiếu nữ, đã duyên dáng xinh đẹp ra sao, nên mới đánh động đuợc các thi, hoạ,văn nhân tốn bao nhiều sơn, mực, phấn, giấy, vải, để lưu lại hình ảnh giai nhân với chiếc áo dài tha thướt đó. Các thi nhân thì ngẩn ngơ khi ngắm một tà aó bay bay trong chiều Thu sang,

Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc,
Áo nàng xanh, anh mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu thương,
Anh thay mực cho vừa mầu áo tím.
( Nguyên Sa)

Vâng, mầu áo nàng đã khiến những anh sinh viên ngơ ngẩn mỗi chìều bên cổng trường ngóng đợi một tà áo thân quen… .
Những tà áo trắng như những cánh buớm của các nữ sinh đang tuổi xuân thì đã khiến bao con tim các nam sinh rung động.

Sân trường bầy gái trẻ

Đùa nắng má hây hây
Gió vô tình thổi nhẹ
Tà áo trắng tung bay…
(Trần văn Lương)

Và còn nhiều nữa, như:

Sàigòn bây giờ trời mưa hay nắng?
Tà áo em bay theo giọt nắng vàng.
Con đường ta đi giòng sông kỷ niệm,
Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu dàng.
(Trần Ngoc)

Ngoài cửa lớp

Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại mang về.
(Đỗ trung Quân)

Em về mặc cánh hoa rơi
Áo em tím suốt một trời bằng lăng.
(Bình Nguyên Trang)

Áo dài thường may bằng những hàng lụa mỏng, mầu sắc nhẹ nhàng. Chiều dài của aó cách gấu quần khoảng 30 phân, có khi ít hơn. Áo dài có cổ, giống như cổ aó tàu, cổ áo cao chừng hai, ba centimet. Thân trên của aó dài may sát với thân hình người phụ nữ, kín từ cổ đến cánh tay, nhưng vẫn phô trương đuợc nhưng nét mỹ miều của thân thể, vàø vẫn là kín đáo đoan trang. Từ vòng eo trở xuống thân aó gồm hai vạt aó, vạt trước và vạt sau. Bên trong, người phụ nữ mặc quần dài, may thuôn theo hai ống chân, những cô gái có đôi chân dài, mặc quần bằng tơ, hay lụa óng, khi buớc đi, dáng uyển chuyển, và hai tà aó đuợc tự do bay bay theo gió thổi, đã khiến một ký giả người Mỹ, bạn của anh tôi, lần đầu đến Việt nam vào thập niên 60 khi nhìn các nữ sinh Trung học lúc tan truờng, đã phải kêu lên là đẹp quá và đã ví những tà aó trắng đó không khác gì một đàn bướm bay lượn trên con đuờng Cường Để ngập lá vàng.

Chiếc áo dài đã đuợc biến dạng ra sao từ những năm xa xưa?

Khoảng thời điểm của năm 1910 tới 1950, chiếc aó dài đuợc may hơi rộng rộng, không bó sát thân hình, vì người phụ nữ phải mặc chiếc aó cánh ngắn tay bên trong, thông thường là aó "phin" hàng cotton, mỏng, sợi tơ vải rất thanh, và nhẹ, gọi là aó "phin nõn". Chiếc aó ngắn đó có túi nhỏ bên hai vạt aó. Hàng aó dài thường là luạ, vải, còn gấm và tơ dành cho những người giàu có. Người nghèo thì may aó dài bằng vải.


Về mầu sắc của aó dài, thì vào thời điểm đó, phụ nữ còn nhiều nhút nhát e dè. Không dám làm cách mạng trong vấn đề y phục, nên họ thường mặc những mầu  nhạt, nhẹ nhàng, mà không dám mặc những mầu sặc sỡ, trông chói lọi vì sợ cho là không đứng đắn. Cái nền nếp, sự bảo thủ của lớp người cổ xưa đã khiến người phụ nữ thuở đó phải ngại ngần trong sự chọn mầu sắc của áo. Chỉ những ả đầu hay đào hát mới dám dùng mầu sặc sỡ cho y phục. Còn các tiểu thư, các bà mệnh phụ đa số là mặc những mầu hồng nhạt, mầu lòng tôm, mầu mỡ gà. Những mầu rực rỡ chỉ đuợc họ mặc trong dịp lễ lớn như đám cuới, đám rước hội. Hầu như người ta không thấy người phụ nữ bình thường ở lớp tuổi 30 lại mặc mầu đỏ khi đi phố.


Mầu trắng, đen, xám, và nâu là dành cho những phụ nữ tuổi ngoài 40. Vào thập niên đó khó mà kiếm đuợc một cô gái đương thì, tuổi xuân mộng lại chọn mầu xám buồn để mặc. Mầu trắng, quần trắng là thuờng dành cho học sinh Trung học, Ngoài ra, mầu trắng, mầu đen, cũng thường dùng cho những truờng hợp tang chế.

Cổ áo dài thường may giống như cổ aó Tầu. Phụ nữ ở vào tuổi trung niên thì cổ aó may hở một khúc nhỏ phía truớc khoảng bằng nửa gang tay để phô trương những dây hột vàng 24k đuợc đánh như dây chuyền, gồm các hột vàng nhỏ bằng 1/3 hột đậu xanh, kết lại thành một chuỗi dài và quấn nhiều vòng quanh cổ, nhưng họ chỉ khoe phần nữ trang đó ỡ chỗ cổ phiá truớc. Phần còn lại đuợc đeo dấu bên trong aó. Họ không đeo nguyên xâu chuỗi ra ngoài cổ aó.

Khuy aó cũng đóng một vai trò quan trọng và biến dạng dần theo mốt của áo. Khuy áo cũng đuợc đổi thay theo mốt của áo. Khuy aó thường đuợc làm bằng những hạt thuỷ tinh trong, tròn như hòn bi và to hơn hạt ngô, đủ mầu theo aó. Nhưng thường là mầu hổ phách, hay mầu xanh ngọc, như mầu qủa nho, hoặc hạt khuy đuợc tráng thủy giống như những viên ngọc trai mầu phấn hồng, mầu ngà. Khuy aó đuợc đính vào aó bằng chân khuy. Chân khuy aó đuợc tết bằng hàng vải cùng mầu, hay chính vải của aó, đuợc may lộn nhỏ như thân cây tăm to, đó là những chiếc chân khuy đẹp. Người thợ may xếp hai chân khuy như hai chiếc tăm nhỏ nằm song song nhau. Khéo và may giỏi là sao hai chân khuy aó may lộn cho thật muớt, đều và nhỏ, mũi kim đính khuy vào thân aó phải đều như tắp, chiếc khuy đuợc lồng vào chân khuy, bộ khuy đuợc chia làm hai phần, phần một là phần có hạt khuy aó, phần kia là phần hạt khuy aó đuợc lồng vào, chân của khuy aó đều giống nhau từ dạng đến kích thước. Ngoài ra khuy cũng được làm bằng vải tết lại. khuy thường là bằng vải cùng màu với vải may áo, nếu là áo hoa, thì sẽ phải chọn một màu nào nhiều nhất của áo để làm khuy.

Thế rồi có một cuộc cách mạng lớn về y phục cuả thập niên 30, do nhà vẽ kiểu mẫu y phục thời trang : Cát Tường, đuợc mệnh danh là Le Mur, Người sáng chế những đổi mới cho áo dài, đã làm một cuộc cách mạng lớn về y phục phụ nữ ngày đó. Ông Cát Tường đã cải biến những chiếc aó dài, gây sôi nổi trong xã hội thời bấy giờ và bị giới bảo thủ chống đối kịch lịệt, cho là kiểu áo mới làm hư phụ nữ. Dĩ nhiên những kiểu aó dài do ông sáng chế ra đã đuợc một số phụ nữ theo mới yêu thích. Những chiếc aó đó có cái đẹp riêng của chúng. Chiếc aó Le Mur cải biến là tay aó không ráp theo lối thường truớc đó, tức là tay aó ráp ở khoảng giữa cánh tay, từ vai xuống khuỷu. Lối cải biến của nhà may Cát Tường thì tay aó đuợc ráp từ vai như aó sơ mi hay áo ngắn. Vai aó hơi bồng, Hò aó đuợc thay đổi, cổ aó đuợc cắt rộng xuống, không còn cổ như kiểu áo Tàu nữa, mà cổ aó là hình trái tim, hay cổ tròn, rồi kết ren quanh cổ, tuỳ theo mầu áo và mầu sắc.

Ngực aó thêu hay gắn ren. Khuy aó cũng đuợc thay đổi, người ta dùng những loại khuy tròn và dẹt, hình những bông hoa v...v... như khuy dùng cho các loại aó ngắn.




Áo dài Le Mur Cát Tường 1934

Những kiểu aó Le Mur này đã bị những người bảo thủ cho là lố lăng, dị hợm, và lên tiếng công kích dữ dội trên baó chí, mặc dù các kiểu aó đuợc những phụ nữ cấp tiến hưởng ứng nhiều. Vào giai đoạn 1930, xã hội VN cũng có những thành phần chạy theo Tây, học đòi theo ngoạị bang những cái rởm, hành động lố lăng, trơ trẽn của một lớp người trưởng giả học làm sang, đã khiến nhà văn Nguyễn Trọng Phụng cho ra đời cuốn truyện "Số Đỏ" để chấm biếm những thói hư tật xấu của một tầng lớp nào đó trong xã hội đương thời.

Nhưng rồi phong trào cấp tiến của aó dài đó cũng không tồn tại, người ta lại trở về với lối áo cổ xưa, nghiã là chiếc aó dài đơn thuần giản dị hợp với cá tính của phụ nữ Việt Nam hơn. Áo vẫn may hơi rộng rộng.

Mãi cho đến thời điểm 1960, người ta mói bắt đầu mặc aó dài may bó sát lấy thân hình để phô trương nét kiều diễm của thân thể, tà aó may vừa phải, không quá lớn, cũng không quá nhỏ. Sau đó mốt aó lại được cải biến dần dần, cứ vài năm lại thay đổi một tý, khi thì cổ aó đuợc may thấp, khoảng 1 centimet rưỡi,đến 3 centimet là tối đa, chiều dài của aó cũng đuợc may ngắèn hơn, khi thì mode lại đổi, là chiều dài của vạt aó dài chỉ cách gấu quần khoảng một gang tay, và cổ aó lại đuợc may cao hơn, từ 5 tới 7 centimet. Mốt áo may ngắn đi thì dễ cho phụ nữ sửa lại, chỉ việc cắt vạt aó cho ngắn bớt, là có áo mặc hợp với thời trang, nhưng khi mốt aó đổi thành dài hơn, thì người phụ nữ bắt buộc phải tốn tiền may aó mới. Chiếc aó dài lại kén chủ nhân mặc nó, bới vì mập quá, hay ốm quá, đều đuợc "nó phản bội" rõ ràng, không giúp chủ nhân che những khuyết điểm của thân hình, như khi người phụ nữ mặc y phục của Tây Phương: dress hay blouse, hay longdress, và nhất là kiểu aó đại lễ của Đại Hàn thì còn che đuợc bụng bầu đến vài ba tháng .

Ngoài ra quần mặc với aó dài cũng đuợc thay đổi theo mốt luôn. Mầu quần căn bản là quần lụa trắng, hoặc đen, nhưng thường người ta mặc quần trắng, chỉ mặc quần đen vào những kỳ có kinh nguyệt. Quần thuờng may bằng hàng lụa mềm, may dài đến gót chân, ống quần rộng khoảng một gang tay rưỡi, lưng quần đuợc lồng dây thun. Vào năm 1954, người miền Nam có sáng kiến rất hay,là họ mặc quần nút bấm, thì quần đuợc may sát vòng bụng, may vừa đúng eo, và để thân hình có chui lọt đuợc, bên hông phía trước của quần đuợc xẻ xuống chừng một gang tay, và có nút bấm, loại quần này khi mặc với aó dài sẽ đẹp hơn, vì vải không cộm lên ở bụng như lưng quần bằng thun, nên nhìn rất muợt mà,

Thập niên 60, có rất nhiều đổi thay quan trọng về chiếc aó dài Việt Nam. Đó là tay aó raglan. Người ta sáng chế ra aó tay raglan, tức là tay aó nối từ cổ xuống nách, xéo theo hò áo. Loại tay aó này sẽ không nhìn thấy khúc nối ở lưng cánh tay nữa, Chiếc áo dài coi đẹp hơn. Và cũng từ kiểu aó raglan này, lại sáng chế thêm sự văn minh khác nữa, tức là người mặc có thể cho may hai tay aó bằng hàng ren một mầu trong các hoa của áo, hoặïc tiệp mầu với mầu vải aó, có khi là hàng voan, coi cũng rất đẹp. Và khuy aó cũng đuợc thay đổi luôn, họ dùng khuy bấm cho aó dài. Áo dài ở thời điển này may ôm sát vào thân hình, eo aó đuợc thắt chặt, có người còn dùng dây quanh aó phiá trong ở vòng hai để eo đuợc nhỏ hơn. Vạt aó may dài lê thê, chỉ hở tý gấu quần. Giữa thập niên 60, mốt aó mới thay đổi là aó dài midi, coi xinh xắn hơn, vì vạt aó không dài nữa, chỉ dài quá đầu gối một gang tay.




Một biến đổi lớn vào nữa đầu thập niên 60 là áo dài cổ hở do bà Ngô Đình Nhu sáng chế. Aó dài không có cổ, mà cắt hở chút vai, mốt này cũng bị nhiều người chống đối, nhưng khi nhìn quen mắt lại thấy đẹp, nhất là cho những ai có cổ cao và trắng, với bộ ngực đầy đặn. Sau này cổ aó lại cắt sâu xuống, hình vuông, hay hình tròn rộng để khoe một phần da thịt mịn màng hoặc khoe dây nữ trang đeo cổ.

Ngoài kiểu áo hở cổ lại có mốt là aó không cổ, tức là cổ aó cắt sát chân cổ, chỉ có đuờng viền nhỏ quanh cổ mà thôi.



Mốt cổ aó bà Ngô Đình Nhu này không đuợc mặc ở trường Trưng Vuơng. Thuở đó tôi còn nhớ, lúc năm Đệ Tứ, hay Tam, mấy chị Đệ Nhị hay Đệ Nhất, aó mặc chít eo chật quá, để khoe vòng số hai nhỏ xíu, là bị các bà giám thị gọi lên văn phòng, "chỉnh" cho và bắt về nhà thay aó. Thập niên đó, cô đào Người Pháp Brigitte Bardot,đang là thần tượng cho nhiều học sinh, sinh viên lúc bấy giờ. BB có mái tóc dài buông lơi đến quá lưng rất là quyến rũ. Tóc cũng hơi đánh rối phiá trước. Nên nhiều nữ sinh bắt chước kiểu tóc của nàng. Tại Trưng Vương, nữ sinh nào tóc đánh rối cao quá, cũng bị các bà giám thị tóm vô văn phòng, bắt gỡ tóc chải lại. Ngoài ra cũng tuyệt đối cấm mặc aó dài mà chỉ mặc su chiêng ở trong. Các nữ sinh của trường đều phải mặc aó lá mỏng ngắn bên trong aó dài, ngoại trừ aó dài nào may bằng hàng teteron dầy, khiến các bà giám thị hay giám học không nhìn thấy su chiêng thì mới thoát.


Cũng ở thập niên này, aó dài đuợc chế biến thêm là kiểu aó ba tà. Vạt aó phía truớc xẻ từ cổ xuống thành hai tà phiá truớc, và dùng khuy tàu đính từ cổ aó một hàng khuy dài đến tận eo bụng ở vạt trước. Tay aó raglan, hàng may aó thuờng đuợc lựa là hàng gấm, mốt aó này cũng không đuợc chuộng cho lắm,

Thập niên 60, lại phát minh ra aó vẽ, người mặc aó vẽ đầu tiên, phát minh ra kiểu aó vẽ là HKL, khi đó mới đệ ngũ, tự mình vẽ lấy aó. Ai đã đi chợ tết vào thập niên đó, chắc hẳn có người đã nhìn thấy và còn nhớ một cô bé với chiếc aó dài mầu hồng phấn, vạt aó vẽ hình một thiếu nữ phù tang, che dù, mặc kimono đi duới hàng cây anh đào, hoa anh đào rơi lả tả từ ngực xuống tận gấu áo. Tấm aó vẽ ngày đó đã lôi keó bao sự tò mò của mọi người đi chợ tết khi nhìn chiếc áo dàí đặc biệt như thế. Nhưng với trí óc của tuổi học trò Đệ Ngũ, đã không biết là có những thứ sơn có thể vẽ trên vải, để mình có thể làm giàu bằng sự sáng tạo đó. Aó HKL vẽ bằng mầu nuớc, giặt một lần là hết. Đến hai ba năm sau Saigòn mới có aó vẽ do các nhà thuơng mại và hoạ sĩ hợp tác. Áo vẽ thịnh hành từ thuở đó, nhưng đâu có ai biết rằng, nguời đầu tiên nghĩ ra vẽ trên vải aó, và nguời đầu tiên mặc chiếc aó vẽ thuở đó là một cô bé mới 13 tuổi đầu, nay đang ngồi viết bài này và nhớ lại một thuở học trò xa xưa!

Cũng ở thập niên này, phụ nữ lăng xê mốt mặc áo dài với quần tây may ống thẳng, chán rồi đổi qua mốt quần xéo, may bằng những hàng mềm, và quần may đuợc xếp vải thật xéo để cắt cho ống thật rộng, rất tốn vải. Muốn diện đẹp và có tiền thì may quần bằng hàng mouseline mỏng, có lót, coi rất tha thướt và duyên dáng, hàng may quần cũng chỉ là mầu đen, hay mầu trắng.

Sau 75, thì chiếc aó dài bị cách mạng cho là loại y phục hủ hoá, làm giảm thiểu mức sinh hoạt của phụ nữ, nên chiếc aó dài hầu như bị biến mất ở thành thị. Không hiểu có phải chiếc áo dài xinh xắn bị ruồng rẫy một cách oan uổng đáng thương vì do thời điểm nghèo khó của đất nước lúc bấy giờ? Vì mỗi gia đình một năm chỉ đuợc chính phủ cho mua vài mét vải, thì lấy đâu ra may aó dài? Ngay may quần mặc thuờng còn không đủ chiều dài cho những ai có chiều cao tốt nữa, nên quần mặc cũng ngắn cũn cỡn. Những chiếc aó dài của thời vàng son truớc 75 nay đuợc cắt lấy hai vạt aó để may aó ngắn. Và thảm thương hơn nữa cho nhiều chiếc aó dài xinh đẹp của một thời xa xưa đó, nay nằm tủi buồn bên lề phố, chủ nhân nó phải ngậm ngùi bán nó đi để đổi lấy chút cơm gạo cho gia đình sống qua bữa, hoặc gom góp, chắt bóp để có tiền thăm nuôi chồng trong trại cải tạo.


Thỉnh thoảng tôi nhận đuợc thư gia đình và bạn bè thân còn kẹt lại bên quê nhà, thư chuyển qua đường bên Pháp rồi mới đến Mỹ, ngụy trang mọi cách, từ hình thức đến nội dung để đến đuợc tay mình. Nhìn hình ảnh những người bạn học xinh đẹp ngày xưa của một thời hoa gấm, một thời óng ả duyên dáng trong những chiếc aó dài duyên dáng. Nay thì…tuy vẩn còn được dậy học, nhưng nét mặt không dấu nổi nét buồn rầu u ám đến thảm haị. Thân phận cô giáo nghèo nàn trong chiếc aó ngắn bạc mầu, và chiếc quần đen cũ kỹ ,dáng dấp đã thay đổi, nét vất vả hằn trên khuôn mặt, trông bạn không khác gì mấy người buôn bán hàng rong ngoài chợ truớc 75. Nhìn hình ảnh bạn mà xót xa lòng!

Thế rồi qua thập niên 80, chiếc aó dài đuợc rón rén về lại với dân thành thị Saìgòn, nhưng ở thời điểm này chiếc aó dài mất đi nét tha thướt duyên dáng truyền thống. Không biết có phải vì điều kiện khó khăn nghèo nàn của đất nuớc đã ảnh hưởng đến chiều dài, ngắn, của vạt aó đuợc may không? Bởi vì ở giai đoạn này, có thể nói là giai đoạn xấu nhất về mốt của aó dài. Tà áo ngắn cũn cỡn, hầu như chỉ dài hơn đầu gối tý chút mà thôi, vạt áo lại may nhỏ, kích aó cũng quá cao, nhìn người mặc aó, thấy như áo bị hớt lên. Giai đọan này chiếc nón lá cũng bị thay đổi kích thước nữa, Chiếc nón lá thuờng là vật làm tăng thêm nét duyên dáng rất nhiều cho thiếu nữ khi họ mặc aó dài. Nhưng sau 75, vòng nón ,đường kính đã bị thu nhỏ đi nhiều, khiến chiếc nón mất đi nét đặc thù của nó. Nhìn cái nón khá giống một loại mũ, hay giống giống kiểu nón của người Trung Hoa, nghĩ thật đáng tiếc!




Buớc vào thập niên 90, mốt aó dài lại đuợc thay đổi lần nữa, Lần này thì khá hơn. Khi mà Việt Nam có bộ mặt sung túc hơn thời điểm của thập niên 80, vì do sự tài trợ của Việt kiều đổ đô la về giúp thân nhân, người dân thành thị ở Sàigòn đã có bộ mặt sáng sủa hơn, nên mốt aó dài cũng đuợc thay đổi luôn. Tà aó đuợc may dài hơn, cổ aó cao hơn, hàng may aó mầu sắc cũng đẹp hơn, Áo thêu, aó vẽ trở nên thịnh hành ... và người ta còn sáng chế ra kiểu mặc quần màu, thuờng là cùng mầu với hàng aó, hoặc chọn một mầu trong aó dài hoa đó. Nhìn những áo này, vẻ đẹp xấu tuỳ theo quan niệm mỗi người. Riêng cá nhân tôi, thì tôi vẫn thấy aó dài mặc với quần đen hay trắng là đẹp nhất.

Thập niên 2000, thì phải nói chiếc aó dài Việt Nam đã đuợc buớc vào giai đoạn toàn mỹ nhất từ xưa đến nay. Bây giờ người dân ở Sàigòn đã diện lắm rồi vì cuộc sống đã sung túc hơn xưa rất nhiều nhờ những ngoại tệ của các nuớc đầu tư vào nền thuơng mại ở Việt Nam, nên hàng hoá tràn đầy, do đấy tơ lụa gấm vóc còn nhiều hơn thời điểm trước 75 nữa.

Ngoài ra hiện nay tại Việt Nam có nhiều nghệ sĩ vẽ kiểu mẫu thời trang về y phục. Họ đã rất thành công vì thiết kế đuợc nhiều kiểu aó dài độc đáo và quá đẹp. Những người vẽ kiểu mẫu áo dài này đã biết mang sắc thái cổ xưa vào phần thiết kế áo dài, để vẫn giữ đuợc những nét đặc thù của một loại y phục có lẽ là đẹp nhất Á Châu. Họ đã dùng những loại tơ, luạ in hình hoa văn, và dùng những loại lụa mềm để làm tăng nét tha thuớt uyển chuyển của nguời phụ nữ Việt Nam. Sự pha trộn về mầu sắc lại rất hài hoà, và chú trọng sự cắt ráp hoa để tạo nên những đuờng nét độc đáo của aó. Áo dài của giai đoạn này đã đạt đến mức tuyệt đỉnh về cả mỹ thuật lẫn kỹ thuật.

Các nhà thiết kế về áo dài còn phối hợp đuợc cái đẹp của Tây phương mang vào y phục Việt Nam, như những chiếc aó hở một bên vai, khoe cánh tay trần trắng nõn nà, hoặc những chiếc aó hở cả phần ngực trên và vai, lộ hai cánh tay trần, người mặc được choàng ra ngoài chiếc khan san mỏng, dài để che bớt cánh tay, và vẫn quyến rũ. Hoặc aó không dùng tay raglan, mà là khoá keó phiá sau lưng để phần ngực aó đuợc mượt mà…v..v… Thêm vào giới phụ nữ trẻ ở quê nhà, hay ngay cả bên hải ngoại, họ đều có chiều cao hơn phụ nữ ngày xưa, do đấy khi các thiếu Việt Nam mặc chiếc aó dàì, với thân hình dong dỏng cao, chân dài , buớc đi uyển chuyển trong chiếc quần tơ óng muợt, thật không một y phục Á Châu nào có thể quyến rũ và gợi cảm hơn chiếc aó dài VN trong thời kỳ hưng thịnh này.

Hương Kiều Loan

Cuộc Sống Vươn Lên ghi lại 29/12/2015 

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

ĐẢNG THỜ 2 CHỦ NGHĨA: 
HÈN  VÀ CHỦ NGHĨA MÁC LÊ
Trên thế giới một đảng thờ một lượt hai chủ nghĩa ( CN Mác-Lê và Chủ nghĩa HÈN) và một tư tưởng của tên đạo tặc hồ chí minh, chỉ duy nhất trên thế giới là đảng cộng sản VN mà thôi! Về "chủ nghĩa cộng sản Mác-Lê" và "tư tưởng hcm" thì nhân dân VN đã quá biết rồi,  không cần phải phân tích thêm chi cho thêm dài dòng, người viết chỉ phân tích về chủ nghĩa Hèn của 4 triệu đảng viên csVN.


Quê Hương và Chủ Nghĩa

Chủ nghĩa dạy em, giết chết lương tâm
Chủ nghĩa dạy em, vô thần đấu tố

Chủ nghĩa mù, rước voi dày mả Tổ

Chủ nghĩa ngu, thờ đồ tể ngoại bang
Chủ nghĩa bưng bô, xây dựng thiên đàng
Chủ nghĩa lừa em, những con bò sữa......
Chủ nghĩa cai thầu, bán buôn Tổ-Quốc

Chủ nghĩa lưỡi câu, móc mồi dân tộc
Chủ nghĩa bịp lừa, bánh vẽ tự do
Chủ nghĩa cá ươn, tư tưởng vong nô
Chủ nghĩa chết đi, Quê Hương vẫn sống....
Nguyễn Quốc Chánh


Hèn rất nhiều nghĩa, cá nhân hèn ít hệ lụy hơn là tập thể, hèn. Một tập thể mà hèn thì gây ra không biết bao là hệ lụy cho con người và đất nước.Tại sao giờ đây dân gian có câu nói "Hèn với giặc ác với dân"? câu nầy phải hiểu như thế nào? Câu nói này ám chỉ đến một tập thể với 4 triệu người, đó là những tên việt gian của đảng cộng sản, một đảng mà toàn dân khinh bỉ và lợm giọng mổi khi nhắc tới. Một đảng hết chui háng Nga tới háng Tàu để mưu cầu  đaị nghiệp. Đai nghiêp nói nơi đây không phải là sự nghiệp to lớn về chinh tri mà là nghiệp báo (hệ lụy).   

 Nói đến chủ nghĩa hèn (CNH) là phải nghĩ ngay đến cái tính cái nết của con người, loại bõ yếu tố "hèn" là cụm danh từ: thì mang nghĩa chỉ loại người cùng đinh trong xã hội. Trong kho tàng cổ tích văn học Việt Nam có: Thạch Sanh, Tấm, Chử Đồng Tử, Trần Minh Khố Chuối, Trương Chi... đại diện tầng lớp nghèo khó, bần hàn...
Nếu "Hèn" là một tính từ chỉ cá tính, bản chất con người. Hèn có thể đứng độc lập một mình hay kết hợp với tnh từ khác tạo thành câu mang sắc thái đánh giá, nhận xét và kết luận. C Nguyễn Du( cậu 2515-2518) dùng từ "hèn" để nhận xét một tình huống của Từ Hải nghe lời Kiều, mắc mưu Hồ Tôn Hiến:

Đương khi bất ý chẳng ngờ
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!  
Tử sinh liều giữa trận tiền
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân.

Khi "hèn" là tính từ: Nó bao gồm những thuộc tính, tính chất thấp nhất của con người khi đánh mất nhân cách bằng những biểu hiện: hèn hạ, ươn hèn, nhút nhát, sợ hãi,, khiếp nhược....
"Hèn" theo nghĩa trong câu trên là sợ hãi, khiếp nhược vì đối lập "hèn" là "gan" trong đoạn thơ trên. Hèn còn là tiếng mắng chửi, miệt thị, khinh rẻ. Chúng có thể đứng một mình tạo thành câu độc lập. Hèn! Hèn thế! Hèn hạ! Qúa hèn! Hèn qúa! Đồ hèn! Quân hèn! Đồ đơ hèn! Đồ yếu hèn! Đồ hèn mạt! Hèn nhát! Thứ hèn nhát! Quân hèn nhát! Loại hèn nhát!...

CÁI "HÈN" CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VN


Thật không có cái nhục nào to lớn bằng cái nhục của một dân tộc có một chính quyền hèn hạ và đốn mạt như chính quyền cộng sản Việt Nam ngày nay, một chính quyền bán nước hại dân, chỉ biết tham nhũng và hiếp đáp dân lành. Không những thế tà quyền Cộng Sản Việt Nam còn muốn tất cả dân tộc Việt Nam phải hèn nhát như bọn chúng. Vì thế nếu có người nào can đảm, dám biểu lộ lòng yêu nước và dám nói lên những việc làm sai trái, đốn mạt của bọn chúng, là bọn chúng tìm cách đàn áp và bắt giam như ta đã thấy. Không biết người dân còn chịu đựng sự nhục nhã này tới bao giờ mới tìm cách lôi cổ bọn hèn nhát này xuống để trị tội? Dân chủ XHCN của chúng là như thế, không chấp nhận tiếng nói khác chiều. Việt gian còn có một đạo luật rừng khốn nạn nhất thế giới là ai mà nói xấu, hay phê bình cán bộ nhà nưóc, đảng là bị phạt tiền bằng "một đạo luật không không thấy trong bộ luật hình sự của CHXHCNVN"

Thí dụ:Quyết định xử phạt hành chính của Đoàn thanh tra chuyên ngành Sở Thông tin-Truyền thông An Giang về hành vi vi phạm các qui định trong lĩnh vực Internet đối với cô giáo Lê Thị Thùy Trang và ông Nguyễn Huy Phúc với mức xử phạt là 5 triệu đồng. Dư luận đang băn khoăn rằng, ông Chủ tịch tỉnh không chỉ đạo thuộc cấp xử lý hành chính những vị “nói xấu ông trên mạng” liệu có phải cấp dưới vì quá “sốt sắng” bảo vệ uy tín cho cấp trên mà quá vội vàng dẫn đến cẩu thả trong việc áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính?Phân tích rõ hơn về các văn bản được cơ quan chức năng ngành Thông tin – Truyền thông tỉnh An Giang đưa ra, Luật sư Nguyễn Đăng Quang (Văn phòng Luật sư Đăng Quang và Cộng sự) phân tích: “Biên bản vi phạm hành chính ghi bà Lê Thị Thùy Trang vi phạm điều 5, khoản 1, điểm g Nghị định số 72/2013 NĐ-CP ngày 15/7/2013 về quản lý, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.
Quyết định xử phạt hành chính số 09/QĐ-XPHC ngày 16/10/2015 căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 1/7/2013?1 (thực tế không có luật này) và áp dụng điểm g, khoản 3 điều 66 Nghị định 174/2013 NĐ-CP ngày 13/11/2013”.http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Nghi-dinh-174-2013-ND-CP-quy-dinh-xu-phat-vi-pham-hanh-chinh-buu-chinh-vien-thong-cong-nghe-thong-tin-213651.aspx


Luật sư Đăng Quang phân tích rõ hơn: Căn cứ biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính của đoàn thanh tra thấy biên bản nêu “hành vi vi phạm là vi phạm qui định về quản lý, sử dụng dịch vụ internet và thông tin mạng”. Nhưng quyết định xử phạt hành chính thì lại xử về hành vi “cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ sử dụng thông tin số”. Vậy hành vi đăng tải lên Facebook, like, câu like có phải là sử dụng thông tin số? Nếu hành vi đăng trên trang cá nhân Facebook là sử dụng thông tin số thì qui định ở đâu? Nếu không thì phải giám định xem cô giáo Trang có sử dụng thông tin số để đăng tải bình luận: “Ông chủ tịch này có cái mặt kênh kiệu, xa lánh dân nhất trong các đời chủ tịch”. Đây là ý kiến nhận xét cá nhân của một công dân trong tỉnh đối với người đứng đầu cơ quan Hành chính nhà nước của tỉnh mình. Nhận xét này mang tính cảm nhận chủ quan của cá nhân bà Trang đối với ông Chủ tịch chứ không phải với cá nhân ông Vương Bình Thạnh. Cảm nhận này không mang thông tin đe dọa, quấy rối, xuyên tạc hay xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân ông Chủ tịch cũng như cá nhân ông Vương Bình Thạnh. Theo đó, nó không gây hậu quả làm mất uy tín, danh dự cá nhân ai cả. Vậy hành vi đăng tải nội dung trên không có lỗi nên không cấu thành hành vi vi phạm hành chính, nhất là hành vi sử dụng thông tin tần số. “Mặt kênh kiệu, xa dân nhất”… chỉ là cảm nhận mơ hồ không cân đo, đong đếm được và chưa có qui định trong văn bản qui phạm pháp luật nào cả.http://vov.vn/xa-hoi/noi-xau-chu-tich-tinh-tren-facebook-ca-nhan-bi-phat-co-the-khoi-kien-452584.vov


Việt Khang người thanh niên can đãm đã nói lên được cái hèn của đám tà quyền csVN, bằng hai bản nhạc " Anh là Ai và Việt Nam Tôi Đâu", bọn hèn nầy đã bị chạm nọc nên dành một bản án lãnh bản án 4 năm tù cho những người không hèn. Cộng sản đã không còn thiết tha gì với tiền đồ của dân tộc, nhưng chúng rất hèn với những ai yêu nước!

Sở dĩ Trung Cộng ngang nhiên đưa giàn khoan đến vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam đó là vì sự hèn nhát và vì truyền thống cỏng rắn về cắn gà nhà, rước voi về vầy mả tổ của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Trung Cộng coi vùng Biển Đông như ao nhà của họ bởi vì Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng công nhận Hoàng Sa và Trường Sa với lãnh hải 12 hải lý là của họ, và tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã từng xin cho Việt Nam được trở thành một khu tự trị trực thuộc chính quyền trung ương ở Bắc Kinh. Do đó chuyện vừa xảy ra trên biển không có gì lạ cả.
Thái độ hèn nhát của Việt Cộng là đưa tàu ra ngăn chặn tàu Trung Cộng nhưng lại ra lịnh là tuyệt đối không được nổ súng, cho nên tàu Việt Nam đưa hông ra cho tàu Trung Cộng đâm vào làm hư hại 8 chiếc và làm tổng cộng 9 thủy thủ bị thương.

Sự hèn nhát khiến cho nhà bình luận Nguyễn Hưng Quốc phải buộc miệng thốt ra “Sao bỗng dưng họ lại hèn đến thế?”
Cái thâm độc của Trung Cộng là, không chỉ chiếm dầu mỏ mà việc đưa giàn khoan là bước đầu thực hiện chủ quyền trên một cụm đảo chung quanh Hoàng Sa mà họ đang làm chủ, và bước kế tiếp là thực hiện quyền làm chủ toàn bộ vùng lưỡi bò trên biển Đông.

Trung Cộng biết Hoa Kỳ không giúp Việt Nam để chống lại họ về quân sự, vì CSVN luôn luôn khẳng định việc giải quyết song phương, tức là việc riêng của hai nước Cộng Sản anh em. Và hơn nữa, Hoa Kỳ cũng khẳng định không can dự vào tranh chấp về chủ quyền ở biển Đông, mà chỉ thực hiện những hiệp ước đã ký với các đồng minh trong vùng.

Nhìn lại cuộc hải chiến Trường Sa năm 1988 để thấy sự hèn nhát của đảng CSVN. Có câu: “Tàu lạ, người lạ nhưng hèn hạ lại rất quen”. Lính QĐND chỉ đừng làm bia cho bọn Trung Cộng tác xạ, nhưng đám đầu lĩnh tôn vinh đó là vòng tròn bất tử (?). Chúng xem sinh mạng của con em nhân dân như những cọng rác bên vệ đường. Khi nào cần giao đảo Gạc Ma cho giặc Tàu Cộng, thì vứt đàn con cho người lạ làm thịt. Tối ác nầy của những tên hèn csVN cần phải được truy tố ra toà án hình sự quốc tế. Một vết nhơ của QĐND trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước. Nếu những người lính đó là lính VNCH, dù cho có yếu thế hơn Tàu Cộng, nhưng ít ra mạng đổi mạng, một VNCH chết thì ít lắm 2 hoặc 3 Tàu cộng phải bõ xác.   Xem sức chiến đấu của QL.VNCH trong việc giử biểđảo ngày 19.1.1974, so với việc QĐND giử đảo Gạc Ma năm 1988

Đề cập đến tình hình đang sôi động khi Trung Cộng đưa giàn khoan dầu vào vùng biển Việt Nam, nhà bình luận Nhà bình luận của Nguyễn Hưng Quốc, luận về chữ hèn của những lãnh đạo trong lịch sử Việt Nam, nhà bình luận Nguyễn Hưng Quốc  buông một câu hỏi lịch sử vô cùng thấm thía về hành động và bản chất hèn nhát của lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bài viết nêu ra những cái hèn cụ thể như sau:
* “Hình như mọi người đều đồng thanh giới lãnh đạo Việt Nam: Hèn!”
* “Trung Cộng ngang nhiên chiếm Hoàng Sa và Trường Sa mà chính quyền cúi đầu im lặng: Hèn!”
* “Khiếp nhược trước Trung Quốc lại thẳng tay đàn áp thanh niên, sinh viên xuống đường phản đối bọn Tàu khựa: Lại Hèn!”
* “Tàu Trung Quốc giết ngư dân Việt Nam trong vùng biển Việt Nam mà chính quyền không dám lên tiếng: Lại Hèn!”

VỤ "ÁN ÔN NHƯ HẦU" GẮP LỮA BÕ TAY NGƯỜI

Cuộc thảm sát ở đường Ôn Như Hầu mà nay trong lịch sử Việt Nam đã để lại một vết nhơ cho Việt Gian CS qua vụ án Ôn Như Hầu.Đó là câu chuyện gắp lửa bõ tay người, một cái hèn đáng khinh bỉ nhất của đảng csVN dám làm mà không dám nhận. Câu chuyện như sau:
Hồ Chí Minh qua Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh mà dân chúng lúc bấy giờ gọi VM sau thành VẸM.
Sau khi cướp chính quyền năm 1945. Hồ Chí Minh lợi dụng tình thế Nhật chiếm Đông Dương kêu gọi các đảng phái Quốc Gia thành Lập Chính Phủ Liên Hiệp. Để được các đảng phái Quốc Gia tin tưởng Hồ CHí Minh đã GIÃI TÁN VIỆT NAM ĐỘC LẬP ĐỒNG MINH HỘI.
Ngày 6 tháng 3 năm 1946, khi Hồ Chí Minh qua Chính phủ Liên hiệp đã ký kết Hiệp định Sơ bộ với Pháp, đồng ý cho Pháp kéo ra phía bắc vĩ tuyến 16 để giải giới quân đội Nhật Bản thay cho quân đội Trung Hoa thì đảng Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng chống lại hoà ước đó
Sự lừa bịp trắng trợn của Hồ Chí Minh đã làm cho các Đảng phái QG vô cùng phẫn nộ. Chính Hồ Chí Minh đã lừa bịp dân tộc VN qua chiêu bài Kháng Chiến Chống Pháp nhưng lại thành lập chính phủ liên hiệp để rước Pháp về. Sau 49 ngày thành lập Chính phủ Liên Hiệp để đạt được mục tiêu Hồ Chí Minh ra lệnh giải tán chính phủ, thành lập Đảng Lao Động tức là Đảng Việt Gian Cộng Sản bây giờ
Độc ác và tàn bạo nhất là Hồ Chí Minh đã hợp tác với Pháp để tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia. Trong khi đó tại đường Ôn Như Hầu ở Hà Nội, Hồ Chí Minh nghi ngờ nơi đó là căn cứ của Việt Nam Quốc Dân Đảng nên đã ra tay giết hại đảng viên bằng cách dùng mã tấu chém bừa bãi và cắt đầu một cách man rợ vào những ai mà chúng nghi ngờ là đảng viên VN QDĐ. Có hằng ngàn đảng viên Quốc Dân Đảng bị bắt và mất tích. Con số mà Hồ Chí Minh đã tàn sát trong vụ án Ôn Như Hầu lên cả 50000 người.
Những đảng viên của VN Quốc Dân Đảng là những người yêu nước . Họ đã vì quốc gia dân tộc mà hy sinh xương máu hầu đem lại độc lập cho đất nước VN. Họ không nhân danh một chủ nghĩa nào mà tranh đấu. Họ từ lòng dân tộc bước ra đem lửa đấu tranh để tạo cho dân tộc VN một nước có tự do và dân chủ.
Cho dù Hồ CHí Minh và Võ Nguyên Giáp đã ngụy tạo chứng cớ cho họ là quân gian để thãm sát tất cả nhân mạng của Đảng viên VNQDĐ Ngày 12 Tháng 7 năm 1946, CSVN đã dùng những thủ đọan để tiêu diệt những đảng chính trị Quốc Gia như thế nào? 
Dưới đây là sự thật lịch sử trích từ cuốn Lịch Sử ...Việt Nam Cận Đại của cụ Hoàng Văn Đào. Chắc chắn rằng trong tài liệu của Cộng Sản hoàn toàn bưng bít sự thật, và Vụ Ôn Như Hầu được bóp méo một cách không còn liêm sĩ. Vụ Ôn Như Hầu là vụ tàn sát của Cộng Sản Việt Nam đối với VNQDĐ tại số 9 phố Ôn Như Hầu Hà Nội năm 1946.
Võ Nguyên cho tay chân bộ hạ lấy xác chết trong bênh viện Bạch Mai, rồi đem chôn trong căn nhà ở phố Ôn Như Gầu, xong vu cáo cho Quốc Dân Đảng ( Đại Việt và Việt Quốc) , nơi đó là hắc điếm của QDĐ. https://www.facebook.com/photo.php?fbid=225383027626226&set=a.225382920959570.1073741886.100004635900665&type=3&theater
Nhưng sự bôi bẩn đó của đảng hèn csVN đã không làm cho dân Việt Nam lúc bấy giờ dũ thuyết phục mà ngược lại họ tin tưởng những đảng viên của VNQDĐ đã vì Tổ Quốc và dân Tộc VN mà hy sinh.
Sau vụ thãm sát các đảng viên của VNQDĐ ở Ôn Như Hầu rồi đến vụ thãm sát dân cố đô Huế trong Tết Mậu thân, Hồ Chí Minh và Đảng Việt Gian CS đã để lại trong lòng con dân Việt một sự khiếp nhược, một cái gương về chủ nghĩa hèn vượt thời gian của đảng csVN....

CUỘC THÃM SÁT MẬU THÂN 1968
Đảng cộng sản là loại thầy khủng bố của mọi tổ chức khủng bố có mặt hiện nay trên thế giới nhưng hèn hơn quân khủng bố IS của Hồi Giáo rất nhiều. Bọn IS, khi thực hiện xong cuộc thãm sát ở Paris trong ngày14/11/2015, sau đó IS đã ra một tuyên bố cho biết "8 người anh em mang băng đai thắt lưng chứa đầy chất nổ và mang súng trường đã tấn công chính xác vào những địa điểm được lựa chọn ở thủ đô của nước Pháp và đây là hành động đáp trả lại việc Pháp đã tham gia vào các cuộc không kích lên phiến quân ISIS ở Syria và Iraq.
Bọn khủng bố IS ít ra còn có cam đãm nhận tội và hành động ác ôn của mình, còn bác và đảng csVN sau khi thực hiện những vụ thãm sát đẩm máu thì khong bao giờ nhận tội, ngược lại còn gắp lửa bõ tay người, gieo tiếng nghiệp ác cho người khác. Cho tới nay đảng hèn vẩn còn loanh quanh với đồng bào Huế về những nạn nhân bị chúng giết trong cuộc tấn công vào những ngày đầu của Tết Nguyên Đán Mậu Thân 1968 và những nạn nhân khác trên toàn cỏi VN.
Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên hành chính ngoại giao của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970 trong cuốn sách "Vietcong Strategy of Terror":
Hậu quã theo ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng, khoảng 2.000 người vẫn còn mất tích. Tổng kết về người chết và mất tích như sau:
Tổng số dân sự tử vong: 7.600 - chết lẫn mất tích
Chiến trường: 1.900 bị thương vì chiến cuộc; 944 thường dân chết vì chiến cuộc
Nạn nhân của những vụ giết tập thể:
1.173 - số tử thi tìm trong đợt đầu sau cuộc chiến, 1968
809 - số tử thi tìm trong đợt nhì, kể cả tìm thấy ở đụn cát, tháng 3-7 năm 1969 
428 - số tử thi tìm trong đợt thứ ba, trong khe Đá Mài (khu Nam Hoa) - tháng 9 năm 1969 
300 - số tử thi tìm trong đợt thứ tư, khu Phu Thu, tháng 11 năm 1969 
100 - số tử thi tìm thấy các nơi trong năm 1969 
      - mất tích (tính đến năm 1970)".http://www.geocities.ws/xoathantuong/dch/dch_nhungsuthat14.htm
Các xác chết của dân vô tội tại Huế, Cộng sản VN dã không giám nhận tội mà loa đảng cho đó là do bom Mỹ và VNCH (?). Mấy triêu đồng bào Huế chắc đui mù hết sao mà tin lời của đám ác ma. Một thời thấy chiêu đổ tội cho Mỹ và VNCH không êm nên chúng xoay qua đổ cho Mặt Trận Miền Nam ra lịnh chứ không phải do đảng chủ trương. 
Trích đoạn phỏng vấn của RFA: “Năm 1972, tôi bắt được một trung tá Việt Cộng, tên Hoàng Kim Loan, là thành uỷ viên hoạt động bí mật tại Huế 20 năm. Tôi hỏi: tại sao các anh thảm sát đồng bào Huế man rợ đến như vậy? Thì Loan nói đây là chủ trương bạo lực Cách Mạng của cấp trên chỉ thị. Thứ hai, khi trên đường rút lui, do không thể đem theo tù nhân, nên phải giết. Loan nói, người Cộng Sản chúng tôi có chủ trương thà giết lầm còn hơn bỏ sót.”
Và, họ đã bị giết ra sao?
“Tôi hỏi tại răng không bắn họ, cho họ viên đạn còn dễ hơn lấy búa, dùng vật cứng đập đầu họ và đẩy xuống hố. Loan nói: Đạn chúng tôi để bắn Mỹ Nguỵ. Đạn đâu để bắn những đám người như vậy.
Bản chất của những thằng hèn trong cái gọi là đảng csVN là như thế!!, viết tới đây tôi lại chợt nhớ tới cách câu nói của những nguyên thủ nước Nga, h từng là là thủ lĩnh của đảng cs Liên Xô trong thời chiến tranh lạnh:

Bao giờ búa gãy liềm tan
Bao giờ thây cáo khỏi hang Ba Đình
Bấy giờ mới rạng bình minh
Bấy giờ nước mới hồi sinh thái hoà.
Non sông bừng dậy reo ca
Nơi nơi hạnh phúc, nhà nhà vui tươi
Hỡi người dân Việt tôi ơi
Đứng lên dẹp đảng xây đời tự do.
(Niềm Tủi Nhục Giống Nòi-Thơ Phan Huy)

Nếu tôi, người viết im lặng, không lên tiếng thì tôi sẽ bị người đời nguyền rũa là thằng ôm ấp chủ nghĩa hèn. Vì thế tôi và những người yêu nước khác ngoài đảng cs sẻ tiếp tục lên tiếng cho đến khi nào chủ nghĩa hèn bị hoá giải, để đất nước mới sớm thăng hoa.

Võ Thi Linh đêm giáng sinh 2015