Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

Yên Báy hay Yên Bái trong “Tinh Thần Yên Báy Bất Diệt”

Đêm mùng 9 rạng ngày 10 tháng 2 năm 1930, toàn cõi "Bắc Kỳ"dưới sự lãnh đo của Nguyễn Thái Học Đảng Trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng, toàn dân Việt Nam "Bắc Kỳ" đứng lên làm Tổng Khởi Nghĩa với mục tiêu: Dân Tộc Độc Lập - Dân Quyền Tự Do - Dân Sinh Hạnh Phúc. 
Xin giới thiệu đến qúy vị bài viết của Lê Hoàng Châu : Yên Báy hay Yên Bái trong “Tinh Thần Yên Báy Bất Diệt” 

I. Mở đầu:
Vào tháng 6/2010 nhân dịp tưởng niệm 80 các nhà ái quốc Việt Nam Quốc Dân Đảng đền nợ nước ngày 17-6-1930, sau buổi lễ có người tham dự nêu câu hỏi “Yên Bái” hay “Yên Báy” trên Diễn Đàn Thơ Văn Yahoo Groups, và rộng khắp trên hệ thống email, internet…  Trong những email qua lại, có ý kiến của một vị nay đã bước vào tuổi cao niên, xin mạn phép được trích nguyên văn email của vị ấy:
“ On Jul 10, 10:23 am, Khai Le <thuongvietn…@...> wrote:

> TVN, tôi giờ đây đang dần dần biến thành người cao niên nên xin đóng góp chút ý kiến về chữ Yên Bái hay Yên Báy.
> Tôi sinh ra tại Đàlạt, nhưng chiến tranh Việt Pháp xảy ra. Gia đình tôi tản cư về quê ông nội tại Quảng Nam, sau cùng là biên Hòa ; nhờ vậy tôi đã sống qua 3 thời kỳ khác nhau: Việt Minh, VNCH, VNCS cũng như học sử Việt Nam ở T.H. và Cỗ Luật ở ĐHLK tôi đều dùng địa danh Yên Bái để nhắc về người anh hùng Nguyễn Thái Học bị hành quyết tại Yên Bái (chữ Bái có nguồn gốc từ ý nghĩa bái lạy, còn chữ Báy không có nghĩa này và người QN phát âm Bái khác với Báy( Bái= bơái, Báy= baáy).
> Rất mong các vị có tâm huyết với nhà ái quốc Nguyễn Thái Học nên tham khảo nhiều ý kiến đóng góp để điều chỉnh lại địa danh nầy và giúp cho những thế hệ sau không nhầm lẫn về địa danh lịch sử nầy.
> Có một số nhà báo tự nhận là thức-giã hay nhà báo được tôn vinh là thức-giã viết theo chủ quan của họ rồi bao nhiêu người khác cứ cho họ viết là đúng nên đã xảy ra trường hợp tấm biểu ngữ viết sai như trong hình Lễ Kỷ Niệm nhà cách mạng chống Pháp trong hình nầy thật là đáng tiếc.
> Kính chào đoàn kết và hết lòng tôn vinh nhà ái quốc Nguyễn Thái Học của VNQDĐ (Dù tôi không phải là thành viên của QDĐ)” - Hết trích.
Để làm sáng tỏ vấn đề địa danh Yên Bái (i ngắn) hay Yên Báy (y dài) trong ngày Tổng Khởi Nghĩa của VNQDĐ vào ngày 10/02/1930, và để có những điều không đồng ý với vị cao niên học thức trong email trên khi giải thích chữ Yên Bái, tôi xin đi vào những chứng liệu lịch sử để làm sáng tỏ vấn đề đối với đồng hương, và cũng để tôn trọng một cách nghiêm chỉnh đối với một địa danh mà các anh hùng dân tộc đã vì nước bỏ mạng sống của mình. Trong suốt bài này tôi dùng “Yên Bái” (i ngắn) vì ngày nay chữ quốc ngữ người ta dùng như vậy, trong tự điển và các quảng cáo trong nước người ta dùng như vậy… Tuy nhiên, Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy (y dài) đó là điều minh chứng của lịch sử chứ không phải do ngữ âm của người quê Quảng Nam, và cũng không phải Bái là bái lạy như đã đề cập ở email trên.
Bài viết này mục đích làm rõ về địa danh Yên Bái từ đó tìm ra nguồn gốc của “tinh thần Yên Báy bất diệt” (y dài hay i ngắn). Vậy địa danh Yên Bái có từ lúc nào, lịch sử hình thành Tỉnh Yên Bái ra sao?  tại sao cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng lại có tên là “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy (y dài)”,
Bài viết trong phạm vi chỉ nói về “Địa Danh Tỉnh Yên Bái”, không bàn về cách viết chữ I /Y trong tiếng Việt. Tuy vậy, nếu qúy vị muốn có hiểu biết thêm về những nguyên tắc viết tiếng Việt chữ I / Y nên đọc bài: “Nói thêm về chữ I và Y trong chính tả tiếng Việt của Đoàn Xuân Kiên”(*)
II. Sự thành hình của Yên Bái về lịch sử, địa danh, truyền thuyết và tài liệu:
1. Yên Bái là địa danh lịch sử:
Địa danh Yên Bái được biết đến qua Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy!… Mỗi khi nói đến địa danh Yên Bái, thì người Việt Nam không một ai không biết đến, đặc biệt những người sống và lớn lên dưới mái trường của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước 1975, các sách sử từ bậc tiểu học, trung học, đại học đều dành những chương sử đưa vào chương trình Sử-Địa dạy về cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy của VNQDĐ. Đó là cuộc Tổng Khởi Nghĩa 10/02/1930 đánh đuổi thực dân Pháp dành độc lập,  do đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng, vị anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Phải thành thật mà nói rằng nếu không có cuộc “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy” 10/02/1930,  thì địa danh Yên Bái không nỗi danh đối với người Việt và thế giới sâu rộng như thế. Ngày nay, Yên Bái là địa linh nhân kiệt tên tuổi gắn liền với lịch sử.
2. Yên Bái vị trí địa lý:

Yên Bái ngày nay dưới nhà nước Cộng Sản Việt Nam
Yên Bái là đơn vị hành chánh cấp Tỉnh dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam cai trị hiện nay, thủ phủ là thành phố Yên Bái. Yên Bái là 1 trong 13 tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam. Bắc giáp tỉnh Lào Cai, Nam giáp tỉnh Phú Thọ, Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Tây giáp tỉnh Sơn La. Thành phố Yên Bái là trung tâm sinh hoạt văn hóa, chính trị, thương mại của tỉnh. Tỉnh Yên Bái gồm thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ và 7 huyện: Yên Bình, Lục Yên, Văn Chấn, Văn Yên, Trấn Yên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, tổng số địa phương gồm 180 xã, phường và thị trấn; trong đó có 70 xã vùng đồi cao. Yên Bái là nơi tập trung của các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai, một lợi thế tâm điểm về giao thông với các tỉnh phía Bắc, và cũng là lợi thế chiến lược quân sự của miền Bắc Việt Nam.
3. Lịch sử hình thành tỉnh Yên Bái:
Trong lịch sử, vùng đất cơ bản của Yên Bái gồm thành phố Yên Bái ngày nay, một phần đất huyện Yên Bình và một phần đất huyện Trấn Yên đến Đao Thịnh (chữ Trấn ở đây viết đúng phải là Chấn). Còn các huyện khác là những phần đất được sát nhập vào Yên Bái qua các thời kỳ lịch sử.
Thời Hậu Lê, thì Yên Bái là một địa danh nằm trong tỉnh Hưng Hóa, đó một tỉnh lớn có diện tích trải rộng khắp vùng thượng du, trung du tây bắc Việt Nam.
Địa danh Yên Bái là một vùng đất có từ lâu đời, từ xa xưa trong lịch sử, theo truyền thuyết thì từ đời các vua Hùng đã cử các công chúa xinh đẹp nết na nhất, đặc phái đi trông coi và cai quản các cửa sông, cửa rừng, giúp thần dân cách canh tác, trồng trỉa, định cư sinh sống. Công chúa Minh Đạt được cử lên Yên Bái phần đất giữa khúc uốn quanh của Sông Đà chảy vào Sông Hồng, Sông Chảy, trước khi chảy xuống đồng bằng Bắc phần, đời sống dân chúng trong vùng do công chúa Minh Đạt trông coi được thanh bình. Bà đã sống trọn cuộc đời trinh bạch, khi mất bà đã hiển linh, phù hộ mọi nhà bình yên, no đủ. Nên vùng đất  Minh Phú, Minh Đạt, Yên Bình, những địa danh được gắn liền với chữ “Yên” (trong Hán Nôm: yên thuộc  bộ An, bình an, yên lành), còn truyền đến ngày nay.

Bản đồ các "Đạo Quan Binh" quân Pháp đóng tại Bắc Kỳ năm 1891- Địa danh Yên-Báy (Y dài) của Đội Quân Binh số 3-TM
Thời kỳ Thực Dân Pháp đô hộ nước Việt Nam, sau hòa ước Thiên Tân ngày 9/6/1885 ký kết giữa Pháp và Mãn Thanh tại đảo Hải Nam, vào đời vua Thành Thái triều Nguyễn. Thời kỳ này thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên toàn cõi miền Bắc gọi là “Bắc Kỳ”, để chấn chỉnh, bình định “Bắc Kỳ”, ngăn chặn sự đánh chiếm của triều đình Mãn Thanh, thực dân Pháp thành lập các “Đạo Quan Binh” tại Bắc Kỳ, tách phần thượng du Tỉnh Hưng Hóa từ Lai Châu đến Hà Giang miền thượng du Bắc Kỳ làm Đạo Quan Binh Lào Cai, tỉnh lỵ đặt ở Lào Cai (Lão Nhai). Đạo Quan Binh gồm có 4 hạt: Lào Cai, Bảo Hà, Nghĩa Lộ, Yên Báy thêm hai châu là Chiêu Tấn và Thủy Vi. Hạt Bảo Hà chỉ có 1 châu là Văn Bàn, Hạt Nghĩa Lộ có 2 châu là Văn Chấn và Tú Lệ, Hạt Yên Bái có 1 huyện là Trấn Yên. Lúc này theo bản đồ trên đây thì Yên Báy (Báy là y dài).
Ngày 9-9-1891, toàn quyền Đông Dương của Pháp lại ra Nghị Định quy định địa bàn của các tiểu quân khu, đồng thời thành lập thêm các tiểu quân khu: tiểu quân khu Lào Cai, tiểu quân khu Yên Báy, tiểu quân khu Tuyên Quang.

Sơ Đồ tỉnh Yên Báy 1930 dưới thời Pháp thuộc-Yên Báy (y dài). Trong sơ đồ này có hai chữ "A" đó là Đồn Thấp và Đồn Cao mà cuộc Tổng Khởi Nghĩa của VNQDĐ ngày 10-02-1930 đã chiếm Đồn Thấp
Tiểu quân khu Yên Báy gồm Châu Lục An (tỉnh Lào Cai), huyện Hạ Hòa (tỉnh Sơn Tây) và các huyện Cẩm Khê, Yên Lập, Trấn Yên (của tỉnh Hưng Hóa). Thủ phủ tiểu quân khu đặt tại địa danh Yên Báy (y dài).
Cho đến cuối năm 1891, thấy công cuộc bình định kém hiệu quả, thực dân Pháp quyết định nâng cao hơn nữa quyền lực của các khu vực quân sự nên đã lập ra các đạo quan binh ở Bắc Kỳ thay thế cho các tiểu quân khu cũ. Mỗi đạo quan binh do một sĩ quan Pháp làm tư lệnh, có quyền về quân sự và dân sự, độc lập chỉ huy. Viên tư lệnh này có quyền ngang với Thống Sứ Bắc Kỳ về mặt quân sự, chỉ chịu sự chỉ đạo của viên toàn quyền Đông Dương. Thời kỳ này, Pháp đã thiết lập ở Bắc Kỳ gồm 4 đạo quan binh: Phả Lại, Lạng Sơn, Yên Báy (y dài), Sơn La. Thủ phủ đạo quân binh 3 đặt tại Đồn Binh Yên Báy (y dài).
Ngày 11- 4 – 1900, thực dân Pháp thành lập đơn vị hành chính tỉnh Yên Báy gồm có phủ Trấn Yên, hai châu Văn Chấn, Văn Bàn và thị xã tỉnh lỵ đặt tại Yên Báy. Từ năm 1910-1930, Pháp chuyển châu Lục Yên (tỉnh Tuyên Quang) và châu Than Uyên (tỉnh Lai Châu) vào tỉnh Yên Báy, lúc này trên giấy tờ bản đồ vẫn là dùng chữ Yên-Báy.

III. Tai sao “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy” Báy là y dài?

Báo Pháp năm 1930 đăng cuộc cách mạng Yên Báy (y dài)
Trong lịch sử cận đại của Việt Nam, giai đoạn đấu tranh cho nền độc lập dân tộc, có một đảng cách mạng ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược đặt ách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam, đời sống dân chúng bị bóc lột,cùng cực lầm than. Đứng trước thảm trạng đen tối của dân tộc, những chàng trai trí thức trẻ yêu nước, thấm nhuần tinh thần quốc gia dân tộc và ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ tây phương như cuộc cách mạng nước Pháp 1789, đặc biệt là cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) do nhà yêu nước Tôn Dật Tiên lãnh đạo.
Đảng cách mạng đã được khai sinh từ trong lòng dân tộc, hy sinh vì dân tộc và dựa vào sức mạnh dân tộc mà chiến đấu, đảng cách mạng được khai sinh vào đêm 24, rạng ngày 25 tháng 12 năm 1927 tại làng Thể Giáo Hà Nội có tên là “Việt Nam Quốc Dân Đảng”.
Rồi đúng như phương châm của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã đề ra, vì nước hy sinh, vì dân quên mình, như lời thuật lại trong tác phẩm: Nguyễn Thái Học của nhà cách mạng Nhượng Tống xuất bản năm 1945. Nhượng Tống là người đồng thành lập ĐẢNG là một nhà báo, soạn giả, nhà tư tưởng, nhà cách mạng, là một người bạn, một đồng chí của Nguyễn Thái Học đã viết về người lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa long trời lỡ đất với câu nói được khắc ghi vào lịch sử tại Hội Nghị Võng La khi đảng quyết định tổng khởi nghĩa:
“Chết đi để cả thế giới biết được cái dân tộc này còn sống, chết đi để lại cái gương hy sinh cho đời sau nối bước: Không thành công, thì thành nhân“.
Tổng khởi nghĩa đã được nổ ra đầu tiên tại đồn binh Yên Báy (y dài, như đã trình bày trên dựa vào các bản đồ thời ấy) vào lúc 2 giờ khuya ngày 9, rạng ngày 10-2-1930, từ Yên Báy, Lâm Thao, Hưng Hoá, đánh bom cầu Long Biên, ném bom Hà Nội, đánh Đáp Cầu, Phả Lại, tấn công đồn binh Kiến An, đánh Phủ Dực, Vĩnh Hảo, Thái Bình… tại khắp các tỉnh Bắc Kỳ, lực lượng cách mạng quân gồm: Học sinh, sinh viên, viên chức, giáo viên và binh lính người Việt trong quân đội Pháp.Vì quân cách mạng VNQDĐ phát khởi tiếng súng đầu tiên tấn công bằng vũ trang quy mô có sự tham gia của binh lính người Việt tại đồn binh Yên Báy (trên bản đồ “Yen-Bay”) thuộc Đội Quan Binh Thứ III của Pháp tại Bắc Kỳ, giao tranh kịch liệt đã xảy ra giữa quân cách mạng VNQDĐ với quân đội thực dân Pháp, khiến cho thực dân một phen khiếp vía tỉnh giấc mộng An Nam. Nên Thực Dân Pháp gọi cuộc Tổng Khởi Nghĩa 10/02/1930 của VNQDĐ là “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy” (Báy y dài). Vì sao? Rất là logic vi nó nổ ra đầu tiên đánh đồn binh Yên Báy thuộc đạo quan binh thứ 3 của Pháp…và Yên Báy vào lúc đó trên bản đồ ghi lại Báy là “y dài”
Từ Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy (y dài) đưa đến Tinh Thần Yên Báy Bất Diệt Báy phải là “Y” dài?

Báo Phong Hóa năm 1936 cũng dùng Yên Báy (y dài)
Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy thất bại, chính quyền thực dân  thẳng tay đàn áp, truy lùng bắt bớ khắp mọi nơi. Thêm vào trước đó, vào tháng 12,1929 xảy ra vụ án ám sát tên trùm mộ phu Ba-Danh, thực dân Pháp thành lập Hội Đồng Đề Hình tại Hà Nội để xét sử các chiến sĩ VNQDĐ đã có rất nhiều đảng viên VNQDĐ bị tù khổ sai chung thân bị đưa đi đày tại Côn Đảo.
Kế đến xảy ra cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Thực Dân Pháp đưa Hội Đồng Đề Hình lên Yên Báy, xét xử các chiến sĩ cách mạng VNQDĐ.
Đáng kể nhất ngày 17-6-1930 đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 nhà ái quốc của VNQDĐ đền nợ nước tại pháp trường Yên Báy (y dài), không có giấy bút nào có thể kê khai rõ đầy đủ, những sự hy sinh xương máu của Quốc Dân đồng bào trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc Việt Nam.
Máu chảy thành sông,
Xương chất thành núi!..
Với những con người bất tử đền nợ nước.
Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy đến nay đã trải qua bao thế hệ, với qua bao biến cố lịch sử thăng trầm của đất nước.Tinh thần Yên Báy bất diệt, sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam.Cho dù Việt Nam dưới bất cứ thể chế chính trị, tôn giáo tín ngưỡng, sắc tộc màu da, ngôn ngữ quốc tịch, biên giới lãnh thổ.  Bó đuốc Yên Báy vẫn được thắp sáng ngời theo từng chặng đường lịch sử dân tộc Việt Nam.
Cuộc khởi nghĩa tại Yên Báy (y dài theo sử liệu trong bản đồ năm 1930), đảng trưởng VNQDĐ, Nguyễn Thái Học cùng 12 liệt sĩ cũng lên đoạn đầu đài đền nợ nước tại pháp trường Yên Báy. Như vậy thì “Tinh Thần Yên Báy Bất Diệt” với chữ “y dài” là sự chọn lựa tôn trọng sự hy sinh to lớn của tiền nhân và đúng với vị trí của lịch sử của nó thời bấy giờ.

IV. Tinh Thần Yên Báy Bất Diệt tại sao lại có chuyện viết i ngắn?
Chữ quốc ngữ Việt Nam được phổ biến cuối thế kỷ 19, sang đến đầu thế kỷ 20 chữ Quốc Ngữ được đưa vào giảng dạy trong trường học, thay thế dần học chữ Hán Nôm, và việc trước tác, dịch thuật, sách báo chữ Quốc Ngữ ngày càng được mở rộng trong tinh thần truyền bá văn hóa văn minh Tây Âu. Trong đó có Nhà Xuất Bản Nam Đồng Thư Xã của các trí thức trẻ vào đầu thế kỷ, hoạt động của Nam Đồng Thư Xã chủ yếu dịch thuật trước tác xuất bản sách báo bán với giá rẽ, nhằm khuyến khích đồng bào học, đọc chữ Quốc Ngữ. Việc làm của Nam Đồng Thư Xã được Quốc Dân đồng bào lúc bấy giờ ngợi khen và hưởng ứng. Nhà Xuất Bản Nam Đồng Thư Xã cũng là nơi quy tụ hầu hết những sinh viên, học sinh, giáo viên, viên chức có tinh thần yêu nước lúc bấy giờ tại Hà Nội, Nam Đồng Thư Xã cũng là cơ sở tiền thân của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Theo các tài liệu tìm kiếm được, tên địa danh Yên Bái ngày nay theo thời gian được ghi nhận:
-Tên địa danh Yên Bái, có Hán tự  là : 安 沛 (An Phái), được phiên âm qua mẫu tự La-Tinh ghi tên trên bản đồ là “Yen-bay”. Mẫu tự Chữ Quốc Ngữ tiếng Việt ngày nay là “Yên Báy”, và theo thời gian với những sự chỉnh sửa, cải cách, viết đúng theo cách phát âm trong chữ Quốc Ngữ thì tên địa danh Yên Báy vẫn được viết với Y.
Mãi đến vào những thập niên 1950 Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, đã có một cuộc vận động “cải cách” viết đúng chính tả của tiếng Việt ( Tr-Ch ; Gi- D;….I- Y), của cố Giáo Sư Nguyễn Đình Hòa. Song hành với những trào lưu “cải cách” Chữ Quốc Ngữ như vậy thì chữ Báy được viết thành i ngắn, có lẽ vì thế mà trong trong sách: “Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại 1927-1954 của Việt Nam Quốc Dân Đảng của Hoàng Văn Đào NXB -  Tân Việt 1964” Yên Bái lại thành i ngắn. Tuy nhiên riêng tiếng Việt viết đúng chính tả của chữ I và Y vẫn gặp rất nhiều khó khăn, mặc dù đã có một số nguyên tắc cơ bản qui định khi nào dùng I và Y, nhưng vẫn gặp những trường hợp ngoại lệ lẫn lộn khi viết I và Y trong chính tả với chữ viết thì lại khác với âm đọc…vấn đề I và Y này đã bị nhầm lẫn từ khởi đầu chữ Quốc Ngữ được hình thành cho đến ngày nay.
Tổng khởi Nghĩa Yên Báy đến nay (2011) đã được 81 năm với bao biến cố thăng trầm lịch sử, qua bao “cải cách” văn phạm viết Chữ Quốc Ngữ, địa danh Tỉnh Yên Bái gắn liền với lịch sử đấu tranh, gắn liền văn hóa, văn học,  nghệ thuật sáng tác trên văn đàn, thi ca,của dân tộc. Đặc biệt riêng với “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy” hay “Tinh Thần Yên Báy Bất Diệt” là những cụm từ riêng được chỉ về một địa danh gắn liền với biến cố lịch sử, vì vậy các thế hệ nối tiếp “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy” như Tự Lực Văn Đoàn của Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, và sau này của Vũ Trọng Phụng, Toan Ánh v.v.., họ đều là những người gốc Bắc, chứ có phải dân miền xứ Quảng Nam….họ thường dùng chữ viết Yên Báy, thay gì viết Yên Bái. Các Tác Phẩm như: Nguyễn Thái Học của học giả Nhượng Tống viết “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy”, Ký Thân Nguyễn Hải Hàm viết “Tinh Thần Yên Báy Bất Diệt”, trong hồi ký: Từ Yên Báy đến Côn Lôn (1930-1945) xuất bản năm 1968, ghi lại cho thế hệ mai sau về tinh thần yêu nước trong suốt như hạt minh châu đầu thế kỷ 20 của một đảng cách mạng Việt Nam.
Vì vậy ghi “Tinh Thần Yên Báy Bất Diệt” trong buổi lễ “Ngày Tang Yên Báy” với ý nghĩa sự kiện lịch sử với nền văn hoá văn phong của dân tộc đã được lưu truyền đến nay là rất chính xác và tôn trọng đúng nghĩa.
Đó là lý do chính đáng cho rằng “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy (y dài)” và “tinh thần Yên Báy (y dài) bất diệt” trao cho đúng nghĩa địa danh và giá trị lịch sử được tôn trọng và đúng cung cách hành xử.
Có một điều nữa đáng để ý là qua việc tìm kiếm tài liệu để viết bài này, thì những báo chí phục vụ cho cho chế độ Cộng Sản Việt Nam từ thời Hồ Chí Minh năm 1945, 1946 đều dùng chữ Yên Bái (y ngắn), chắc với một dụng ý không lương thiện vì VNQDĐ vốn xem đảng CSVN là đối nghịch mà cả địa danh lịch sử Yên Báy chúng cũng đổi ra i ngắn để làm mất giá trị của đối phương!

V.  Một đề nghị:
Đến đây chắc cũng đủ chứng liệu và sự kiện về “Tinh Thần Yên Báy Bất Diệt” là nên dùng Y dài, vì nó đúng nguyên thủy địa danh khi các anh hùng dân tộc đã hy sinh thân mệnh của mình chứ dùng chữ Yên Bái (i ngắn) không chuẩn. Vậy xin có đề nghị:
1-Nếu khi đưa những thông tin tình hình thời sự hiện nay thì nên dùng nguyên tắc viết chính tả I ” Tỉnh Yên Bái” mà mọi người đã quen từ bao năm nay và nó trở thành địa danh của sản phẩm thương mãi hiện nay, vì ngày này người ta đã đổi chữ Báy ra Bái rồi….
2- Khi viết có liên quan đế sự kiện lịch sử của cuộc “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy” hay ”Tinh Thần Yên Báy Bất Diệt” thì nên dùng chữ Y.
Bởi vì, “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy” là một danh từ riêng, được khắc ghi vào lịch sử Việt Nam trong giai đoạn đầu tranh cho nền dân tộc, và sự kiện lịch sử này được cả thế giới biết đến của một cuộc cách mạng có  tên “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy”.
Nét son được ghi nhận đây là một cuộc cách mạng của một đảng chính trị đầu tiên của một đất nước đang còn chế độ phong kiến và đô hộ thực dân. Cuộc cách mạng mang tư tưởng tự do, dân chủ của những người yêu nước trong tinh thần giành độc lập và xây dựng một đất nước dân chủ hầu mang lại ấm no hạnh phúc cho toàn dân, cuộc khởi nghĩa của một dân tộc nhược tiểu đã dám đứng lên chống lại một nước thực dân đang hùng mạnh. Indochine : La grande révolte de 1930http://www.histoire.presse.fr/content/recherche/article?id=5531
Tưởng Niệm 81 năm “Tổng Khởi Nghĩa Yên Báy”
Lê Hoàng Châu

Bản đồ Việt Nam năm 1931 Yên Báy là y dài (mũi tên xanh)
————————————————————————————————————————
Tài Liệu tham khảo:
- Bản đồ tỉnh Yên Bái, báo, sách, hình ảnh, dữ kiện có liên quan đến Yên Bái, từ 1920 đến 1930, đến nay.
- l’ Indochine Coloniale -Plans et cartes http://belleindochine.free.fr/Carte.htm
- Báo Phong Hoá 1936
- Báo Đông Pháp 1929
- Báo chí Việt Nam từ thế kỷ -  đầu thế kỷ 20.
- Sách Miền Bắc Khai Nguyên NXB-Cửu Long Giang – TOAN ÁNH-1962
- Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại – Việt Nam Quốc Dân Đảng (Hoàng Văn Đào)
- Nguyễn Thái Học của Nhượng Tống
- Từ Yên Báy Đến Các Ngục Thất Hỏa Lò Côn-Nôn của Ký Thân Nguyễn Hải Hàm,

Lý Bích Thuỷ sưu tầm, 16/12/2015

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

 TÌM HIỂU VỀ 
CỤM TỪ QUỐC TRƯỞNG

Gần đây trên FB cộng đồng người Việt tự do thường thấy có một người là Trần Dần ký tên với danh xưng là Quốc Trưởng trong một sắc lệnh SL:151010/001/VPTT, ngày 10 tháng 10 năm 2015. Vì thấy từ ngữ nầy hơi  xa lạ với các danh xưng thường có trong hàng ngũ lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới của các quốc hiện nay, nên người trẻ chúng tôi đi tìm vết tích của cụm từ Quốc Trưởng để hiểu biết thêm về các nhân vật chính trị này.

Một số danh xưng dùng để chỉ các nguyên thủ quốc gia

(nguồn https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_th%E1%BB%A7_qu%E1%BB%91c_gia)
Quốc trưởng có nghĩa là người đứng đầu cơ quan hành pháp của một quốc gia. Trong các quốc gai trên thế giới  hiện nay, người ta tìm thấy được tên gọi của những người đứng đầu các quốc gia đó như sau:

1.Tổng thống President (tiếng Anh); Président (tiếng Pháp); Nguyên thủ chính thể Cộng hòa của các nước Tư bản chủ nghĩa
2. Chủ tịch nước President (tiếng Anh), Président (tiếng Pháp), Nguyên thủ các nước Xã hội chủ nghĩa
3.Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Chairman of the State Council (tiếng Anh); Président du Conseil d'État (tiếng Pháp).
4.Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia President of National Management Committee (tiếng Anh); Président du comité national de gestion (tiếng Pháp) Chức danh nguyên thủ tại Việt Nam Cộng hòa 1965-1967
5.Quốc vương King, Sovereign, Ruler (tiếng Anh); Roi, Souverain (tiếng Pháp); Nguyên thủ chính thể Quân chủ
6.Hoàng đế Emperor (tiếng Anh); Empereur (tiếng Pháp);Nguyên thủ chính thể Quân chủ là Nam giới
7.Nữ hoàng Queen, Empress (tiếng Anh); Reine, Impératrice (tiếng Pháp); Nguyên thủ chính thể Quân chủ là Nữ giới
8.Toàn quyền
TqĐD, TqC, TqÚ Governor-General hay Governor General (tiếng Anh); Gouverneur général (tiếng Pháp).Đại diện của vua Anh tại các nước trong Khối Thịnh vượng chung Anh, người đứng đầu một thuộc địa có chủ quyền
9.Giáo hoàng Pope (tiếng Anh); Pape (tiếng Pháp).Người đứng đầu của toàn Giáo hội Công giáo Rôma và là người đứng đầu quốc gia Vatican
10.Sa hoàng Tsar (tiếng Anh, tiếng Pháp), Car (tiếng Serbia); Цар (tiếng Bulgaria, tiếng Ukraina) và Царь (tiếng Nga) Danh hiệu của các vua Nga, Bulgaria, Serbia và Gruzia trong một giai đoạn lịch sử nhất định, có nguồn gốc từ chức Caesar của các Hoàng đế La Mã;
11.Thiên hoàng 天皇 tennō (tiếng Nhật) Danh hiệu của các vua Nhật Bản
12.Đại Công tước Grand Duke (tiếng Anh); Nguyên thủ Đại Công quốc Luxembourg
13.Hoàng thân Prince (tiếng Anh, tiếng Pháp) Nguyên thủ Công quốc châu Âu

Ngoài ra còn một số danh xưng nguyên thủ được xem là tương đương với danh hiệu Hoàng đế, như:

Sultan = Vua Thổ Nhĩ Kỳ, vua ở một số nước Hồi giáo;
Êmia = Tiểu vương (Hồi giáo);
Shah = Vua Ba Tư;
Padishah = Vua Ba Tư, vua Thổ Nhĩ Kỳ;
Kaiser = Danh hiệu của các Hoàng đế La Mã Thần thánh, cũng như các Hoàng đế Áo và Hoàng đế Đức sau này;

Và 2 danh hiệu danh cho 2 nhà độc tài ở châu Âu:
Führer = (chỉ dùng cho Hitler);
Duce (chỉ dùng cho Mussolini);
QUỐC TRƯỞNG (QT) THÌ SAO?

QT BẢO ĐẠI
Quốc trưởng Chief /Head of State (tiếng Anh); Chef de l'État (tiếng Pháp). Trong quá khứ theo trình tự các chế độ thì cuối thời quân chủ, Quốc Gia Việt Nam có người đứng đầu dưới danh xưng là Quốc Trưởng Bảo Đại. http://gactholoc.net/c64/t64-22/quoc-truong-bao-dai.html
Ngày 20 tháng 6 năm 1949 Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn từ chức lên cựu hoàng Bảo đại, Chính phủ lâm thời Nam Phần tuyên bố giải tán.
Hoàng đế Bảo Đại
Ngày 1 tháng 7 năm 1949, Chính phủ Lâm thời của Quốc gia Việt Nam được thành lập theo sắc lệnh số 1-CP của thủ tướng, tấn phong Bảo Đại là Quốc trưởng, kiêm Thủ Tướng. Trung tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng quốc phòng.
Như vậy danh xưng Quốc Trưởng đầu tiên của VN, có từ ngày 1.7.1949,  và QT giử quyền hành pháp, ban bố các đạo dụ, là người đứng đầu Quốc Gia VN. Quốc Trưởng chỉ định thành lập Chính phủ và bổ nhiệm trong thể chế Quân Chủ Lập Hiến sơ khai(QCSK) tại VN. 
Sở dĩ, người viết gọi là QCLHSK là vì các thành phần lãnh đạo quốc gia không qua lá phiếu của dân mà  QT tự phong. một hình thức thay đổi từ ngữ của người lãnh đạo trong thời cuối của nền quân chủ cổ điển. 
Một chế độ Quân chủ lập hiến (quân chủ đại nghị) đúng nghĩa là một hình thức tổ chức nhà nước mà trong đó danh vị vua vẩn còn, nhưng không nắm thực quyền, quyền lực nằm trong tay quốc hội do đảng chiếm đa số ghế đứng đầu quan một cuộc phổ thông đầu phiếu. Sau khi thắng cử, đảng thắng cử này có quyền tự mình hoặc liên minh với đảng khác để thành lập Chính phủ và Thủ tướng thường là người đứng đầu của đảng thắng cử. Các nhà nước theo chính thể quân chủ hạn chế thì quyền lực tối cao của nhà nước được trao một phần cho người đứng đầu nhà nước, còn một phần được trao cho một cơ quan cao cấp khác (như nghị viện hoặc hội nghị đại diện trong nhà nước quân chủ).

Hiệu kỳ của Quốc Trưởng Bảo Đại
Quốc trưởng Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương 
trong chuyến công du Pháp quốc (1949)
Quốc kỳ Quốc gia VN
Trở về thời gian có cụm từ Quốc trưởng xuất hiện là từ lúc Bảo Đại về nước do lời mời  Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp, cử phái đoàn đến Hồng Kông vào tháng 5/1947, gặp Bảo Đại để thuyết phục ông này thành lập một Chính phủ Trung ương và đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Sau đó, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại đề xuất về việc đàm phán về nền độc lập của Việt Nam và việc thành lập một chính phủ Việt Nam độc lập. Bảo Đại được Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp bao gồm các lực lượng chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng hậu thuẫn. Như vậy chức vụ Quốc Trưởng của Bảo Đạo không do dân bầu, để đáp ứng với  tình hình chính trị lúc bấy giờ, chế độ quân chủ cổ điển đã bị đẩy lùi. Bảo Đại cũng đã thoái vị từ khi hồ chí minh cướp chính quyền tháng 8/1945. Và QT Bảo đại đã điều hành quốc gia VN từ 1949 đến khi bị truất phế qua một cuộc đầu phiếu vào ngày 23.10.1955  http://lybichthuy.blogspot.de/2014/09/26_15.html

Tính theo thòi gian Quốc trưởng Bảo Đại có mặt trong nền quân chủ lập hiến sơ khai là 6 năm (1949-1955).
QT DƯƠNG VĂN MINH
Ông Dương văn Minh là người tham dự cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông DVM đóng vai trò chính với cương vị Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, cùng với các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, Đỗ Mậu... Đây là một nhóm quân nhân mà nhân dân miền nam VN đã gọi đám phản tướng, đã giết chết một vị tổng thống anh minh hết lòng vì đất nước và Việt tộc.

Tuy nhiên, chỉ 2 tháng sau, tướng Nguyễn Khánh lật đổ chính quyền quân sự này và giành quyền cai trị miền Nam Việt Nam. Ông bị thất thế trong một thời gian ngắn, mặc dù vẫn được giữ chức Chủ tịch Hội đồng kiêm Quốc trưởng. Chức vụ QT được 2 tháng, chúc vụ tự phong


QT NGUYỄN KHÁNH
Ngưòi thứ ba giử chức vụ Quốc Trưởng, đó là Đại tướng Nguyễn Khánh. Một chúc vụ tự phong tự diển. Ngày 30 tháng 1 năm 1964 Ông đã thực hiện cuộc "chỉnh lý" cướp quyền, truất phế các tướng lĩnh chủ chốt của cuộc đảo chính là Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân. Ông tự xưng là chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng kiêm Tổng tư lệnh quân đội.

Ngày 28 tháng 2 năm 1964, ông truất phế chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ và lên làm thủ tướng. Ngày 16 tháng 8 năm 1964, ông ban hành "Hiến chương Vũng Tàu", theo đó ông là Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, kiêm Quốc trưởng, kiêm Thủ tướng của Việt Nam Cộng hòa, cũng như là Tổng tư lệnh, kiêm Tổng tham mưu trưởng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Uy quyền tột đỉnh! 
Ngày 25 tháng 2 năm 1965, một Nhóm các tướng trẻ đã truất phế tướng Khánh..tướng Nguyễn Khánh phải nhận chức đại sứ lưu động ở nước ngoài. Trước khi đi, ông còn nắm theo một miếng đất và tuyên bố: "Tôi có mang theo nắm đất quê hương, một ngày nào đó nhất định sẽ trở về". Ông mất tại Hoa Kỳ cùng với nắm đất ông đem theo từ năm 1965. Vị quốc trưởng nầy có câu để đời là:Quân đội là cha quốc gia!, một Hitler của VNCH.

QT PHAN KHẮC SỮU
Sau cuộc khủng hoảng "Tam đầu chế", ngày 8 tháng 9 năm 1964, ông được Hội đồng quân nhân cách mạng mời vào Thượng Hội đồng Quốc gia. Ngày 27 tháng 9, Hội đồng bầu Phan Khắc Sửu làm Chủ tịch. Ông đã chủ tọa Thượng Hội đồng soạn thảo Ước pháp ngày 20 tháng 10 năm 1964 để thay thế cho Hiến chương lâm thời ngày 4 tháng 11 năm 1963, vốn đặt quyền lực vào tay quân đội, về danh nghĩa trao chủ quyền quốc gia lại cho đại diện dân cử đảm nhiệm. Ngày 24 tháng 10, ông được Thượng Hội đồng đề cử vào ngôi vị Quốc trưởng. Chức vụ QT của cụ Phan Khắc Sữu cũng do đề cử chứ không phải do dân bầu.
Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu (1905-1970)
Quốc trưởng Phan Khắc Sữu trong ngày Quốc Khánh 1/11/1964
Sau khi nhậm chức Quốc trưởng, ngày 4 tháng 11 năm 1964, ông đã bổ nhiệm ông Trần Văn Hương làm thủ tướng, tức là vị thủ tướng dân sự đầu tiên kể từ khi nền Đệ nhất Cộng hòa của tổng thống Ngô Đình Diệm bị quân đội đảo chánh. Nhưng sau đó VNCH đã rơi vào một cuộc khủng hoảng chính trị  kéo dài trong 2 tháng, ngày 18 tháng 12 năm 1964, tướng Nguyễn Khánh cầm đầu các tướng trẻ thành lập Hội đồng Quân lực và sau đó 2 ngày thì ra lệnh giải thể Thượng Hội đồng. Tuy nhiên, ông vẫn được lưu nhiệm Quốc trưởng. Đến ngày 27 tháng 1 năm 1965, Thủ tướng Hương cũng bị buộc phải giải nhiệm, giao quyền Thủ tướng lại cho Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh.
Nhưng đến ngày 16 tháng 2 năm 1965, tướng Nguyễn Khánh, với danh nghĩa Chủ tịch Hội đồng Quân lực, đã ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bổ nhiệm ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng thành lập chính phủ mới.  Ngày 25 tháng 2 năm 1965, tướng Nguyễn Khánh bị các tướng trẻ truất phế, phải nhận chức đại sứ lưu động ở nước ngoài. Chưa đầy 4 tháng sau, ngày 5 tháng 6 năm 1965, chính phủ dân sự của Thủ tướng Phan Huy Quát lại bị Hội đồng Quân lực giải tán. Các tướng trẻ thành lập một Hội đồng lãnh đạo quốc gia và cử Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu là Chủ tịch. Ngày 14 tháng 6 năm 1965, Phan Khắc Sửu chính thức rời ngôi vị Quốc trưởng.
Từ 1947 đến khi có nền đện nhị Cộng Hoà, nước VN có tất cã 4 quốc trưởng, nhưng không có vị nào do dân bầu, các chức vụ đó đều nằm trong những thời ký đất nước lâm vào tình trạng  khủng hong chính trị. Vào trong thời có sự hiện diện của các Quốc Trưởng đều không có một thể chế nào rõ ràng cho quốc gia VN hay VNCH. Quốc Trưởng DVM chỉ tồn tại có 2 tháng, chưa thành lập được hiến pháp hay hiến ước cho triều đại của ông nầy.  Quốc trưởng Nguyễn Khánh thì độc tài quân phiệt không kém gì Hitler, khi thốt lên cấu nói: Quân Đội là cha Quốc Gia", câu nói nầy đã nói lên được bản chất phi dân chủ của ông. Cuối cùng là đến Đến QT Phan Khắc Sữu, ông chỉ tồn tại trong khoãng thời gian mà VNCH bị rối loạn vì nạn kiêu binh của các tướng lãnh trong QL.VNCH, nay thích thì lập chính phủ, không thì truất phế, một đất nước rất hổn loạn với tình trạnh loạn tướng, ai nắm  quân đội là coi mình như ông vua, giống như là đang nắm quyền lực tột đỉnh trong tay-tha hồ tung hoành-
Sự việc đó chấm dứt khi chính phủ dân sự do Quốc Trưởng Phan Khắc Sữu giao quyền lãnh đạo lại cho Hội Đồng Quân Nhân ngày 11.6.1965
Ngày 25-5-1965, thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ, bổ nhiệm một số tổng trưởng mới. Quốc trưởng Phan Khắc Sửu không đồng ý.
Tình hình lại càng bế tắc, bất ổn cho công cuộc chống Cộng của quân dân Miền Nam Việt Nam.
Do đó ngày 11/6/1965, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia.
Và ngày 14-6-1965, HĐQL đồng thanh chấp nhận đứng ra lãnh trọng trách điều khiển quốc gia, thành lập một ủy ban lãnh đạo của quân lực mệnh danh là Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (UBLĐQG). Sau khi tuyên bố nhận lãnh trách nhiệm đứng ra điều khiển đất nước, các tướng lãnh đề cử: trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (UBLĐQG), nhiệm vụ và quyền hành như quốc trưởng; trung tướng Phạm Xuân Chiểu làm tổng thư ký UBLĐQG; thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là ủy viên phụ trách điều khiển hành pháp, nhiệm vụ và quyền hành Thủ Tướng. Ngày 19-6-1965, HĐQL quyết định giải tán Hội đồng Quốc gia Lập pháp. Chủ tịch UBLĐQG Nguyễn Văn Thiệu ký sắc lệnh 001/a/CT/LĐQG thành lập nội các chiến tranh, gọi là Ủy ban Hành pháp Trung ương (UBHPTƯ) do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch.
Khác với những lần đảo chánh hay chỉnh lý trước đây, lần nầy do tranh chấp giữa các chính khách dân sự và với sự thỏa thuận của phía chính phủ dân sự, các tướng lãnh ra nắm chính quyền. Từ đây, ngày 19-6 được xem là ngày kỷ niệm Quân lực VNCH nắm chính quyền, và thường được gọi là NGÀY QUÂN LỰC.
Như vậy có thể kết luận, trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 1949 cho đến ngày 30.4.1975 trong vai trò quốc trưởng, không một người nào lảm được gì cho đất nước và cũng không một người nào có thể gọi là đủ tài đức đđứng ra điều hành quốc gia.
Cho đến hôm nay, ngoài hai vị Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu được dân tín nhiệm, thì chức vụ quốc trưởng đều không từ dân mà ra. Nay tại Hải Ngoại lại xuất hiện một nhân vật tự xưng là quốc trưởng của chính phủ lâm thời VNCH(?) có tên là Trần Dần.

QUỐC TRƯỞNG MỚI XUẤT HIỆN Ở HẢI NGOẠI?
Ông Trần Dần, người mới tự xưng là Quốc trưởng CPLTVNCH? Một quốc trưởng xuất thân từ Thủ Tướng (?) Đào Minh Quân tự phong tự diển. Các ông nầy tự động đứng ra thành lập chính phủ rồi cùng nhau phong thần phong thánh với nhau, quốc dân VNCH thì không ai rõ các ông nầy.http://www.chinhphuquocgia.com/216915484
Sắc lệnh mà không dẩn chiếu được điều gi nói về việc xuất thân của QT và CPLTVNCH? Một chính phủ được giấy phép hoạt động của Tổng Thống Bush và TTK/LHQ(?), vậy thì làm tay sai rồi? Đâu phải do dân VNCH tín nhiệm qua lá phiếu ? Mấy ông nầy khinh thường trình độ hiểu biết của quần chúng đến mức độ bó tay luôn!!
Ông Quốc Trưởng đang tuyên dương Thủ Tướng Đào Minh Quân 

CHÍNH PHỦ LƯU VONG HIỆN TẠI
Trong giai đoạn hiện nay, vẫn có một số chính phủ lưu vong trên thế giới. Ðáng nói đến là chánh phủ lưu vong Tây Tạng. Trung Tâm Hành Chánh Tây Tạng (Central Tibetan Administration – CTA) thường được gọi là chính phủ lưu vong Tây Tạng, được thành lập vào năm 1959 tại Dharamshala, Ấn Ðộ do Ðức Dalai Lama thứ 14 lãnh đạo. Ngài cùng với đa số các vị bộ trưởng đã di tản an toàn ra khỏi Tây Tạng sau cuộc nổi dậy đẫm máu chống sự cai trị của Trung Quốc thất bại. CTA xem Tây Tạng là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng biệt và sự chiếm đóng quân sự của Trung Quốc là bất hợp pháp. Tuy nhiên mục tiêu tranh đấu hiện nay của chính phủ lưu vong Tây Tạng là một quy chế tự trị thật sự.
Mặc dù được tổ chức như một chánh phủ, CTA tuyên bố rằng CTA sẽ không nắm chính quyền tại Tây Tạng mà trái lại sẽ giải tán một khi tự do được phục hồi tại Tây Tạng. Chính quyền Tây Tạng sẽ phải do người Tây Tạng ở trong nước chọn lựa. Chức vụ thủ tướng lúc đầu được Ðức Dalai Lama bổ nhiệm, nhưng kể từ 2001, chức vụ này được cử tri Tây Tạng bầu theo thể thức dân chủ. Kể từ tháng 3, 2011, theo sự yêu cầu của Ðức Dalai Lama, hiến chương Tây Tạng được thay đổi để ngài không còn giữ trách nhiệm về chính trị. Do đó, chức vụ cao nhất hiện nay của chính phủ lưu vong Tây tạng là Thủ tướng.
CTA chăm lo về vấn đề an sinh cho cộng đồng Tây Tạng tị nạn tại Ấn Ðộ gồm khoảng 100,000 người. CTA quản trị trường học, cơ sở y tế, sinh hoạt văn hóa, cơ sở thương mại, và những dự án phát triển kinh tế cho cộng đồng Tây Tạng với sự thỏa thuận của chính phủ Ấn Ðộ. CTA phát hành cuốn sổ xanh lá cây cho tất cả những người dân Tây Tạng sống ở hải ngoại. Cuốn sổ này chứng nhận quốc tịch và sự đóng góp tình nguyện cho CTA. Ngoài ra CTA còn phát hành cuốn sổ mầu xanh da trời cho những ai trên 18 tuổi không phải là công dân Tây Tạng nhưng ủng hộ Tây Tạng.
Chánh phủ lưu vong Tây Tạng không được chính phủ nào trên thế giới công nhận chính thức. Tuy nhiên chánh phủ lưu vong Tây Tạng tiếp tục nhận được sự trợ giúp không chính thức của nhiều nguồn khác nhau. Ðức Dalai Lama được các nguyên thủ quốc gia thường xuyên tiếp kiến. Chính phủ lưu vong Tây Tạng duy trì một số văn phòng ở nhiều thành phố và quốc gia khác nhau như New Delhi, New York, Geneva, Tokyo, London, Paris, Moscow, Canberra, và Budapest. Những văn phòng này hoạt động như tòa đại sứ không chính thức của chánh phủ lưu vong Tây Tạng.
ĐẶC TÍNH CỦA MỘT CHÍNH PHỦ LƯU VONG
Phân tách những thí dụ kể trên người ta có thể định nghĩa chính phủ lưu vong là một tổ chức chính trị tự xem mình là một chánh phủ hợp pháp nhưng không thể sử dụng quyền hạn hợp pháp của mình và phải cư ngụ trên một quốc gia khác. Những chính phủ lưu vong thường chuẩn bị một ngày nào đó có thể quay trở về quê hương của mình để dành lại quyền hành chính thức. Các chính phủ lưu vong được thành lập trong những trường hợp như quốc gia bị xâm chiếm trong thời gian chiến tranh, nội chiến, đảo chánh, hay cách mạng.
Một số yếu tố sau đây giúp người ta nhận biết thế nào là một chính phủ lưu vong:
1. Một cá nhân hay một nhóm cá nhân tự cho mình có thẩm quyền tối cao đối với một quốc gia mà mình đã phải di tản.
2. Một cá nhân hay một nhóm cá nhân có uy tín quốc tế và thành tích đáng kể được quốc gia bao dung công nhận rằng họ có thẩm quyền tối cao đó.
3. Một cá nhân hay một nhóm cá nhân được tổ chức để thi hành một số hoạt động nhân danh một quốc gia.
Ðể chứng tỏ có thực quyền, một chính phủ lưu vong cần phải có khả năng để có thể thực hiện một số hoạt động như sau:
1. Ðược đại đa số dân ở trong và ngoài nước công nhận.
2. Ðược các quốc gia có chủ quyền công nhận ngoại giao.
3. Duy trì một lực lượng đối kháng (đối lập) ở trong nước và/hay hải ngoại.
4. Tham dự vào những hiệp định song phương hay quốc tế.
5. Tu chính hiến chương của chính phủ lưu vong.
6. Phải có ngân sách hoạt động và có các văn phòng đại diện.
7. Phát hành giấy căn cước.
8. Cho phép thành lập đảng chính trị.
9. Thực hiện những cải tổ dân chủ.
10. Tổ chức bầu cử.
Sự hữu hiệu của một chính phủ lưu vong tùy thuộc vào uy tín và khả năng của những người lãnh đạo.Ðó là những trường hợp như Ðức Dalai Lama của Tây Tạng, Bà Aung San Suu Kyi của Miến Ðiện, Tướng Wladyslaw Sikorski của Ba Lan, và Tướng de Gaulle của Pháp. Ðồng thời sự trợ giúp từ khối dân của nước đó và các chính phủ ngoại quốc cũng rất là quan trọng. Những chánh phủ lưu vong trong những thí dụ trên đây cho thấy họ làm việc rất hiệu quả, tạo ra khá nhiều thử thách to lớn cho đối phương. Trái lại, có những chánh phủ lưu vong chỉ duy trì sự hiện diện tượng trưng hoặc tệ hơn không được ai nhắc nhở đến. Trong nhóm này người ta phải kể đến Belarusian People’s Republic, Qajar Dynasty, Pahlavi Dynasty, Royal Lao government in Exile, Sahrawi Arab Democratic Republic, v.v. Theo:http://lacvietnews.com/detail.php?subaction=showfull&id=1384484584&archive=&start_from=&ucat=2&
CHÍNH PH LƯU VONG VNCH
Không như các chính phủ lưu vong khác trên thế giới, các CPLV của VNCH được thành lập sau một thời gian dài nằm quấn chăn ở Hải ngoại sau ngày 30/4/1975. Trong khi các chiến sĩ VNCH vẩn tiếp tục chiến đấu âm thầm với bọn csVN trong các chiến khu sau ngày 30.4.1975. Không biết lúc đó mấy ông đang lập chính phủ LV nầy đang đâu và làm gì?http://kimanhl.blogspot.de/search/label/CU%E1%BB%98C%20CHI%E1%BA%BEN%20V%E1%BA%AAN%20TI%E1%BA%BEP%20DI%E1%BB%84N%20%20SAU%20NG%C3%80Y%2030%2F4%2F1975
Chánh Phủ Quốc Gia Lâm Thời (CPQGVNLT) do Phong Trào Việt Nam Tân Dân Chủ (PTVNTDC) vận động thành lập vào năm 1990. Vì bạo bệnh, ông Nguyễn Trân giữ chức vụ thủ tướng đầu tiên xin từ nhiệm. Ông Ðào Minh Quân, Chủ Tịch PTVNTDC, cựu Trung Úy Chiến Tranh Chính Trị VNCH, lên thay thế và chánh thức giữ tân thủ tướng kể từ ngày 16-2-1991. CPQGVNLT khai báo đã thành lập được năm văn phòng đại diện ở năm quốc gia có đông người tị nạn và được chính phủ Hoa Kỳ công nhận về mặt ngoại giao nhưng không có một bằng chứng pháp lý nào chứng tỏ điều này. CPQGVNLT không đạt được thành tích nào đáng kể và trên nguyên tắc vẫn còn tồn tại đến ngày nay. CPQGVNLT tuyên bố rằng CPQGVNLT là tổ chức “duy nhất đại diện cho Quốc Gia Việt Nam và những người đang bị Cộng Sản cướp nước
Chính phủ lưu vong thứ hai là Chính Phủ Cách Mạng Việt Nam Tự Do (CPCMVNTD) thành lập vào năm 1995, 20 năm sau khi miền nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản. Một người có bí danh là Nguyễn Hoàng Dân giữ chức vụ thủ tướng đầu tiên. Tiếp theo là ông Nguyễn hữu Chánh, trước đó từng là một thành viên của CPQGVNLT. Danh hiệu CPCMVNTD sau này được đổi thành Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Tự Do và cuối cùng là Chính Phủ Việt Nam Tự Do. Tổ chức này tự giải tán vào 2008 vì “không còn phù hợp với tình hình thế giới.” Trong 13 năm hoạt động Chính Phủ Việt Nam Tự Do không được quốc gia nào công nhận, không thu hút được sự hỗ trợ đáng kể của dân Việt Nam ở trong nước và hải ngoại, cũng như không đạt được thành tích nào đáng kể. Trái lại tổ chức này còn bị tai tiếng vì liên hệ đến những vụ đặt bom bất thành tại một vài cơ sở của CSVN.

Chính phủ lưu vong thứ ba do các Ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu thủ tướng VNCH, Ông Nguyễn Văn Chức, cựu thiếu tướng và cựu thượng nghị sĩ VNCH, cựu thiếu Tướng Lý Tòng Bá, và Ông Hồ Văn Sinh, chủ tịch VNCH Foundation, vận động thành lập vào năm 2008 với danh xưng là chánh phủ VNCH. Tổ chức này quy tụ được một số nhân vật thuộc nội các VNCH cuối cùng dưới quyền của cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn. Sau khi Ông Nguyễn Bá Cẩn đột ngột từ trần vào năm 2009, hai ông Nguyễn Văn Chức và Lý Tòng Bá tiếp tục điều hành Chinh Phủ VNCH cho đến nay. Tổ chức này chủ trương phục hồi VNCH, đòi CSVN trả lại miền Nam Việt Nam bằng cách vận động quốc tế thi hành đúng đắn Hiệp Ðịnh Paris 1973.
Chánh phủ lưu vong thứ tư vừa mới thành lập vào tháng 10 vừa qua dưới danh xưng Ủy Ban Lãnh Ðạo Lâm Thời VNCH do khoảng 300 người tham dự một hội nghị họp tại Westminter, California lấy tên là Hội Nghị Diên Hồng Việt Nam Hải Ngoại bầu ra. Ông Nguyễn Ngọc Bích, cựu Tổng Giám Ðốc VNTTX, được nhiều phiếu nhất giữ chức chủ tịch. Ông Hồ Văn Sinh, nguyên là viên chức Dân Vận Chiêu Hồi, đệ nhất phó chủ tịch. Ông Ðoàn hữu Ðịnh, nguyên sĩ quan Nha Kỹ Thuật, đệ nhị phó chủ tịch.

UBLÐLTVNCH có chủ trương tương tự như tổ chức Chánh Phủ VNCH của cố thủ tướng VNCH Nguyễn Bá Cấn: Phục hồi Hiệp Ðịnh Paris 1973 và đòi CSVN trả lại miền nam Việt Nam để tái lập nước Việt Nam Cộng Hòa. Cho đến nay, người ta chưa biết rỏ tổ chức Chánh Phủ VNCH và UBLÐLTVNCH là hai thực thể khác biệt hay chỉ là một.

Nhân dân VN nghĩ gì? khi chỉ có một VNCH mà tới 4 chính phủ lưu vong được thành lập? một chuyện rất kỳ quái trên chính trường thế giới. Giới làm chính trị họ chỉ lắc đầu để bài tõ một sự thất vọng về căn bệnh lãnh tụ. Hay là các chính phủ VNCH lưu vong xuất phát từ hai chử TỰ DO (?)= thoãi mái vô tư thành lập không màng gì đến ý dân? Chính phủ từ dân mà ra, nay thành lập mà không cần đếm xĩa gì đến ý dân? 

Người dân và các nước đồng minh muốn ủng hộ VNCH thì làm sao biết chính phủ nào để ũng hộ? đâu thế nào ủng hộ hết 4 tổ chức VNCH một lượt? Biện pháp tốt nhất là nên thống nhất lại 1 chính phủ, để dân còn biết mà ủng hộ. Sức mạnh của chính phủ VNCH từ đó mới phát triển và uy tín gia tăng. 
Thật tình mà nói, người trẻ chúng tôi rất thất vọng về căn bệnh trầm kha này-ngũ một đêm, thức dậy chạy gom bè bạn lại rồi thành lập một cái chính phủ bất chấp dư luận. Buồn cho căn bệnh lãnh tụ!, những người trể chúng tôi biết phải chọn ai đây? Nhu cầu về một chính phủ lưu vong rất cần thiết, tuy nhiên không nên bõ ngoài tai ý dân. 

Xem thêm:

1.Ao thả vịt: lại chánh phủ lưu vong: http://dcvonline.net/2014/06/05/ao-tha-vit-lai-chanh-phu-luu-vong/

2. Mạn đàm về chính phủ lưu vong. http://nsvietnam.blogspot.de/2014/06/man-am-ve-chinh-phu-luu-vong.html

Võ Thị Linh, 7/12/2015