Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

  CÁI NHÌN TỪ NGUỒN CỘI CỦA VIỆT TỘC: HỒN VIỆT CÒN, VÕ VIỆT CÒN

Câu nói "Hồn Việt còn, Võ Việt còn" gợi nhắc đến một mạch tư tưởng quen thuộc trong văn hóa Việt Nam,  kiểu như "Tiếng Việt còn thì nước Việt còn" của Phạm Quỳnh. Nói "Hồn Việt còn, Võ Việt còn" không chỉ là một câu nói gói gọn một triết lý với niềm tự hào về bản sắc quật cường của Việt tộc.

Câu nói "Hồn Việt còn, Võ Việt còn" gợi nhắc đến một mạch tư tưởng quen thuộc trong văn hóa Việt Nam, kiểu như "Tiếng Việt còn thì nước Việt còn" của cụ Phạm Quỳnh. Nói "Hồn Việt còn, Võ Việt còn" không chỉ là một câu nói gói gọn một triết lý với niềm tự hào về bản sắc quật cường của Việt tộc.

"Hồn" nằm trong "Hồn thiêng sông núi" còn là cách người Việt diễn đạt niềm tin rằng vào sự phò hộ của tổ tiên, anh hùng dân tộc đã khuất, trong việc đấu tranh để mở nước, dựng nước.. để bảo vệ sự trường tồn của Việt tộc và sông núi nước Nam bằng một thứ kỹ thuật về chân tay và về binh khí chiến đấu và được phát triển theo từng giai đoạn phát triển của con người và thời gian, mà chúng ta gọi là "Võ Việt"

Võ Việt không chỉ là kỹ năng chiến đấu, mà là một trong những biểu hiện sống động nhất của hồn dân tộc.

Hồn Việt là gì?

Hồn Việt có thể hiểu là tổng hợp của ý chí sinh tồn, bản sắc văn hóa, một thứ Việt đạo trong ứng xử, cũng như khát vọng độc lập tự chủ đã kết tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nó còn thể hiện qua tiếng nói, phong tục, tín ngưỡng, cách người Việt đối xử với nhau trong gia đình, ngoài xã hội và với ngoại bang, một tinh thần "dĩ bất biến, ứng vạn biến": kiên định về cốt lõi nhưng linh hoạt trong ứng xử. Đó còn gọi là Việt tình trong cái bọc 100 trứng của huyền thoại mẹ Âu Cơ.

Võ Việt là gì?

Võ Việt là hệ thống võ thuật cổ truyền được cô đọng lại bằng những, bài quyền, cách đấm đá, sử dụng binh khí như: Vovinam, Bình Định gia, Thiếu Lâm nội gia Việt hóa, các dòng võ làng, võ cung đình,  nhưng quan trọng hơn cả kỹ thuật là tinh thần thượng võ: ý chí quật cường, tinh thần "lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều", qua đó Việt tộc chúng ta đã nhiều lần cứu được đất nước trước các sự xâm lăng từ phương Bắc, trước những thế lực lớn hơn nhiều lần.

Triết lý võ học Việt Nam chú trọng dùng sự mềm dẻo để triệt tiêu sức mạnh thô bạo. Điều này tương đồng với tính cách người Việt: mềm mỏng, hòa hiếu nhưng vô cùng kiên cường, bất khuất khi bị dồn vào thế bí.

Võ đạo Việt phải gắn liền với sự hiếu đạo, hiếu hòa: Học võ trước hết là để rèn tâm, sửa tính, tự vệ, bảo vệ người yếu thế. Người học võ Việt trước hết phải thấm nhuần tư tưởng "Trọng đức hiếu sinh", không lấy việc sát phạt, giết chóc làm mục đích, mà lấy chí nhân thay cường bạo. Dụng võ là để sửa trị cái sai, không nhằm đến việc sát sinh.

Vậy thì, Hồn và Võ Việt cái nào có trước?

Hồn Việt phải có trước, còn Võ Việt là biểu hiện và công cụ để bảo vệ Hồn Việt , nhưng mối quan hệ giữa hai cái không đơn thuần là quan hệ một chiều "trước - sau" theo trục thời gian, mà là quan hệ biện chứng giữa gốc và ngọn. 

Thứ nhất, xét về mặt logic bản thể luận. Bất kỳ hành động nào của con người ,  kể cả việc cầm vũ khí đứng lên chống ngoại xâm , đều xuất phát từ một động cơ tinh thần trước đó: ý thức về "ta là ai", "ta thuộc về đâu", "ta phải bảo vệ điều gì". Chính ý thức bản sắc ấy, chính là hồn Việt sơ khai ,  mới là cái thôi thúc con người hướng đến võ thuật như một phương tiện. Không ai luyện võ trước rồi mới "phát minh" ra tinh thần dân tộc để luyện võ; ngược lại, chính vì đã có một cộng đồng tự nhận là " Việt tộc", có đất đai, tổ tiên, tín ngưỡng chung cần bảo vệ, họ mới có thể phát triển võ thuật như một nhu cầu sinh tồn.

Thứ hai, xét về mặt lịch sử. Trước khi có bất kỳ môn phái võ thuật thành văn nào, người Việt cổ (thời Hùng Vương, thời các bộ lạc Lạc Việt) đã có ý thức cộng đồng, có huyền thoại lập quốc (Lạc Long Quân – Âu Cơ), có tinh thần đoàn kết chống thiên tai, thú dữ, ngoại tộc. Đó chính là hồn Việt sơ khai. Võ thuật ra đời sau, như một hệ quả tất yếu của quá trình đấu tranh sinh tồn ấy ,  được rèn giũa qua hàng nghìn năm chống Bắc thuộc, qua các cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Bà Triệu, qua 3 lần đại thắng quân Nguyên Mông thời nhà Trần....cho đến mở rộng bờ cõi của triều Nguyễn Gia Long, cho đến những anh hùng giữ nước thế kỷ 20 như Nguyễn Thái Học, Cô Bắc, Cô Giang và các anh hùng chống Pháp của Việt Nam Quốc Dân Đảng , của lịch sử cận đại. 

Thứ ba , và đây là điểm tinh tế nhất , một khi đã hình thành, Võ Việt không còn là "cái đến sau" thụ động, mà quay lại nuôi dưỡng, bồi đắp và thậm chí cứu sống Hồn Việt trong những giai đoạn dân tộc đứng trước nguy cơ diệt vong. Nếu không có sức mạnh quân sự và tinh thần thượng võ, hồn Việt,  dù có sâu sắc đến đâu, cũng có thể đã bị đồng hóa qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc. Chính võ thuật, chiến lược quân sự, và ý chí "thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc" (lời Trần Bình Trọng), như danh tướng Lý Thường Kiệt đã tuyên bố, đánh cho giặc Bắc phương biết:  

Sông núi nước Nam, vua nước Nam ở,
Phân vị rạch ròi đã ghi trong sách trời.
Cớ sao lũ giặc bạo ngược đến xâm phạm,
Chúng bây rồi xem, sẽ chuốc lấy thất tại tan tành.

... đã giúp hồn Việt không những tồn tại mà còn được tôi luyện thêm bản lĩnh, thêm chiều sâu.

Mối quan hệ biện chứng: Gốc sinh Ngọn, Ngọn nuôi Gốc

Chúng ta nên hình dung mối quan hệ này như cây và rễ:

Hồn Việt là rễ , âm thầm, vô hình, là nguồn dinh dưỡng và ý chí căn bản.

Võ Việt được xem là thân và cành, hữu hình, mạnh mẽ, là thứ đối mặt trực tiếp với phong ba bão táp (ngoại xâm, đồng hóa).

Rễ sinh ra thân, nhưng thân giúp rễ bám sâu hơn, hút được nhiều dưỡng chất hơn, và khi thân bị chặt, đôi khi chính rễ mới là thứ giúp cây tái sinh. Tất cả rễ, thân lá cây đều là một. Không rễ cây chết, ngược lại không lá cây thì thiếu sự sinh tồn cho cây, vì là cây một bộ phận của cơ quan dinh dưỡng của cây, thực hiện nhiệm vụ nuôi sống rất quan trọng cho cây như: quang hợp, hô hấp, thoát hơi nước. Do đó "Hồn Việt và Võ Việt quyện lấy nhau  để Việt tộc được trường tồn và thăng tiên.

Đó là lý do vì sao dân gian không hiểu "Hồn Việt còn thì Võ Việt còn" theo kiểu một chiều, mà xem hai vế song song, ngang hàng, như hình với bóng không thể tách rời: mất hồn thì võ chỉ còn là xác kỹ thuật vô nghĩa; mất võ (tức mất khả năng và ý chí bảo vệ) thì hồn cũng khó lòng tồn tại lâu dài trước những thế lực muốn xóa sổ nó. Tuy nhiên, theo cách viết đúng với quy luật thì nên theo thứ tự trước sau.

Theo cách hiểu ngày nay

Trong thời bình, "võ" không còn chỉ là đấm đá chiến đấu, mà mở rộng thành ý chí rèn luyện, kỷ luật, tinh thần thượng võ trong học tập, cuộc sống, cạnh tranh quốc tế. Câu "Hồn Việt còn, Võ Việt còn" vì thế vẫn còn tính thời sự: nó nhắc nhở rằng bản sắc dân tộc (hồn) cần được nuôi dưỡng bằng sức mạnh nội lực thực chất (võ), không phải hoài niệm suông, mà bằng hành động, rèn luyện, và ý chí không ngừng vươn lên.

Kết luận

Xét theo trình tự phát sinh, thì Hồn Việt có trước, nó là động lực tinh thần khai sinh ra nhu cầu và bản sắc của Võ Việt. Nhưng xét theo vai trò tồn tại lâu dài, hai yếu tố này gắn bó khăng khít trong một vòng tuần hoàn nuôi dưỡng lẫn nhau: hồn sinh ra võ, và võ giữ cho hồn không bị diệt vong. Chính vì thế mà người xưa mới ghép chúng lại thành một cặp đôi bất khả phân ly trong tư duy dân tộc , không phải để tranh cãi ai trước ai sau trong cách diễn đạt, mà để khẳng định rằng: thiếu một trong hai, dân tộc Việt Nam khó có thể tồn tại vẹn nguyên qua bốn nghìn năm lịch sử đầy biến động như vậy.

(Có sự hỗ trợ của AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 26 -9-2026   

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét