Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

    THỊ TRƯỜNG XUẤT CẢNG GẠO VN ĐANG ĐỐI MẶT VỚI NHIỀU KHÓ KHĂN

Việc Philippines tạm ngừng nhập khẩu gạo trong 60 ngày, cùng với tuyên bố của Indonesia về việc dừng nhập đến hết năm 2025, tiếp theo là nừng mua tiếp gạo của VN cho năm 2026. Việc này đã ạo ra cú sốc kép lớn cho việc xuất cảng gạo của VN. Sự kiện này, gióng lên hồi chuông cảnh báo về rủi ro chính sách xuất cảng, buộc ngành gạo Việt Nam phải gấp rút thay đổi hướng đi,  đa phương hóa thị trường để tránh những cú sốc bất thình lình trên thị trường gạo thế giới. Nhất

 là từ lúc Trump phát động chính sách thuế đối ứng lên hầu hết các nước trên thế giới.

BỨC TRANH XUẤT CẢNG GẠO CÒN CHỊU NHIỀU ÁP LỰC

Từ tháng 9/2025, ngành gạo Việt Nam đối diện cú sốc lớn, khi 2 thị trường quan trọng của ASEAN đồng loạt thay đổi chính sách. Philippines dừng nhập cảng gạo xay xát thường và gạo xay xát kỹ trong 60 ngày, từ 01/09 đến 30/10, nhằm bảo vệ nông dân trong nước trước biến động giá cả. Cùng lúc, Indonesia cũng khẳng định sẽ không nhập cảng gạo VN cho đến hết năm 2025, và trong tương lai với lý do sản lượng nội địa dồi dào và lượng dự trữ đạt mức cao nhất trong 57 năm. Trong tương lai Indonesia sẽ nhập cảng gạo Mỹ thay vì của VN, lý do là để cân bằng thâm thụt thương mại Mỹ-Indonesia.

CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA THI TRƯỜNG XUẤT CẢNG GẠO CỦA VN.

Theo ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập cảng, trong 8 tháng đầu năm 2025, Việt Nam xuất cảng gần 6.37 triệu tấn gạo, trị giá hơn 3.26 tỷ USD, tăng 3.7% về lượng, nhưng giảm tới 15.4% về kim ngạch so với cùng thời gian với năm 2024 (năm lập kỷ lục xuất cảng). Trong đó, Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất, nhập gần 2.9 triệu tấn, chiếm 46% tổng lượng xuất cảng gạo của VN, còn lại , thị trường Indonesia giảm mạnh, gần 97%, chỉ còn nhập của VN hơn 25,000 tấn, sụt giảm từ vị trí thị trường lớn thứ 2 trong năm 2024, xuống thứ 14 sau 8 tháng của năm 2025.

“Trước việc xuất cảng gạo sang thị trường Indonesia gặp khó khăn do chính sách điều hành, các DN trong nước đã đa dạng hóa thị trường, đẩy mạnh xuất cảng gạo sang Bangladesh, châu Phi…”, ông Hải cho biết.

Thông tin từ Bộ NN&MT cho biết, cơ cấu gạo xuất cảng trong năm 2026 sẽ tiếp tục nghiêng mạnh về gạo chất lượng cao và gạo thơm, với sản lượng ước khoảng 5,8 triệu tấn, chiếm tới 75% tổng lượng xuất cảng. Gạo nếp khoảng 773.000 tấn (10%), phần còn lại là gạo phục vụ chế biến (chiếm khoảng 15%).

Định hướng này thể hiện một sự thay đổi rõ rệt trong chiến lược phát triển ngành sản xuất lúa gạo. Thay vì cạnh tranh trực diện ở các loại gạo trắng thông thường có giá chỉ khoảng 300 - 350 USD/tấn, gạo Việt Nam đang  chuyển sang các dòng gạo thơm, gạo đặc sản, có giá trị cao hơn và ít chịu áp lực cạnh tranh. Trong bối cảnh năm 2026 được dự báo tiếp tục biến động, việc nâng tỷ lệ diện tích sản xuất gạo thơm lên khoảng 70% được xem là chiến lược đúng hướng để giảm phụ thuộc và phân tán rủi ro.

Chinh phục thị trường mới bằng gạo phẩm cấp cao

Nhìn nhận những điểm sáng cho việc xuất cảng gạo, ông Trần Quốc Toản, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập cảng nhận định, xuất cảng gạo năm 2026 sẽ chịu tác động từ các yếu tố như Philippines dự kiến quay trở lại nhập cảng từ tháng 1/2026, mặc dù có sự thay đổi về thuế nhập cảng gạo và có khả năng thay đổi quy định về nhập cảng gạo, nhưng đây là yếu tố thúc đẩy xuất cảng gạo của Việt Nam trong năm 2026.

Xuất cảng gạo VN năm 2026 cũng sẽ có thêm cơ hội, bởi sự quay trở lại nhập cảng từ các thị trường truyền thống, như Trung Quốc, Bangladesh, Phi châu và tín hiệu thị trường từ các thỏa thuận thương mại gạo giữa Việt Nam và các nước khác. Chất lượng gạo xuất cảng của Việt Nam ngày càng được nâng cao, gia tăng khả năng cạnh tranh gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.

Nêu các định hướng thúc đẩy xuất cảng năm 2026, ông Trần Thanh Hải cho rằng, Bộ Công Thương sẽ đẩy mạnh, đẩy nhanh việc hoàn thiện thể chế quản lý trong xuất cảng gạo. Phối hợp với Bộ NN&MT theo dõi sản lượng gạo để có biện pháp giúp nông dân tiêu thụ hết lượng lúa gạo. Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng sẽ đàm phán, ký kết với các thị trường về thương mại mặt hàng gạo và đẩy mạnh xuất cảng, hỗ trợ DN đưa sản phẩm gạo vào các thị trường mới. Với các thị trường đã ký kết hợp tác về thương mại gạo như Singapore sẽ đẩy nhanh tiến độ thực thi.

TÌNH HÌNH XUẤT CẢNG GẠO VN TRONG ĐẦU NĂM 2026

Trong văn bản gửi Bộ Công Thương về cân đối cung cầu thóc gạo hàng hóa phục vụ công tác điều hành xuất cảng gạo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, năm 2026 dự kiến có khoảng 7,73 triệu tấn gạo hàng hóa phục vụ cho xuất cảng.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, diện tích gieo cấy lúa năm 2026 cả nước ước đạt 7,09 triệu ha, giảm 36.000 ha; năng suất bình quân ước đạt 61,4 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha so với cùng thời gian năm 2025. Như vậy, sản lượng lúa năm 2026 ước đạt 43,552 triệu tấn, tăng 12.000 tấn so với năm 2025.

Sản lượng gạo xuất cảng chủ yếu tập trung ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long; các vùng khác chủ yếu phục vụ cho tiêu thụ nội địa. Ước sản xuất lúa cả năm vùng Đồng bằng sông Cửu Long và một phần tỉnh Tây Ninh (Long An cũ) đạt 3,84 triệu ha, sản lượng ước đạt 24,34 triệu tấn

Theo số liệu thống kê sơ bộ công bố ngày 14/02/2026 của Cục Hải quan, trong tháng 1/2026, xuất cảng gạo của Việt Nam đạt 651.430 tấn, tương đương 309.895.921 USD, tăng 19% về lượng nhưng giảm 4,61% về trị giá so với tháng 12/2025.

Philippines tiếp tục là thị trường xuất cảng gạo lớn nhất của Việt Nam trong tháng 1/2026, đạt 331.770 tấn, tương đương 147.452.728 USD, chiếm 50,93% tổng lượng và 47,58% tổng trị giá xuất khẩu gạo của cả nước. So với tháng 12/2025, xuất cảng sang thị trường này tăng 48,02% về lượng và tăng 17,6% về trị giá.

Trung Quốc (Đại lục) là thị trường có tốc độ tăng trưởng rất cao, đạt 118.189 tấn, tương đương 56.793.099 USD, chiếm 18,14% tổng lượng và 18,33% tổng trị giá xuất cảng. So với tháng trước, xuất cảng sang thị trường này tăng đột ngột 551,86% về lượng và tăng 481,19% về trị giá.

Ghana đạt 52.654 tấn, tương đương 27.620.482 USD, chiếm 8,08% tổng lượng và 8,91% tổng trị giá, giảm 11,27% về lượng và giảm 31,07% về trị giá so với tháng 12/2025.

Malaysia ghi nhận mức tăng mạnh, đạt 47.738 tấn, tương đương 19.511.564 USD, chiếm 7,33% tổng lượng và 6,3% tổng trị giá, tăng 217,22% về lượng và tăng 121,69% về trị giá. Trong khi đó, Singapore đạt 8.642 tấn, tương đương 4.791.054 USD, giảm 29,04% về lượng và giảm 37,53% về trị giá. Bờ Biển Ngà chỉ đạt 11.029 tấn, tương đương 4.645.138 USD, giảm rất mạnh 88,27% về lượng và giảm 91,03% về trị giá so với tháng 12/2025.

Một số thị trường khác có mức tăng đáng chú ý như Ả Rập Saudi đạt 5.367 tấn, tương đương 3.103.422 USD, tăng 159,03% về lượng và tăng 99,25% về trị giá; Iraq đạt 250 tấn, tương đương 131.500 USD, tăng 861,54% về lượng và tăng 556,84% về trị giá; Senegal đạt 245 tấn, tương đương 120.752 USD, tăng 920,83% về lượng và tăng 438,11% về trị giá. Nga đạt 482 tấn, tương đương 311.334 USD, tăng 88,28% về lượng và tăng 97,31% về trị giá.

Ở chiều ngược lại, một số thị trường giảm mạnh so với tháng 12/2025 như Chile chỉ đạt 119 tấn, tương đương 94.875 USD, giảm 93,56% về lượng và giảm 91,38% về trị giá; Cộng hòa Tanzania đạt 130 tấn, tương đương 79.950 USD, giảm 75% về lượng và giảm 76,05% về trị giá; Thổ Nhĩ Kỳ đạt 43 tấn, tương đương 36.162 USD, giảm gần như toàn bộ, lần lượt 99,81% về lượng và 99,74% về trị giá.

Xét theo nhóm thị trường, xuất cảng gạo sang khối FTA RCEP đạt 513.105 tấn, tương đương 232.665.441 USD, chiếm 78,77% tổng lượng và 75,08% tổng trị giá xuất cảng gạo của cả nước, tăng 86,07% về lượng và tăng 49,19% về trị giá so với tháng trước.

Xuất cảng sang khối FTA CPTPP đạt 59.321 tấn, tương đương 26.475.091 USD, chiếm 9,11% tổng lượng và 8,54% tổng trị giá, tăng 90,02% về lượng và tăng 36,7% về trị giá.

Xuất cảng sang thị trường EU theo Hiệp định EVFTA đạt 1.795 tấn, tương đương 1.413.475 USD, chiếm 0,28% tổng lượng và 0,46% tổng trị giá, giảm 31,96% về lượng và giảm 35,38% về trị giá.

Trong khi đó, xuất cảng sang khối FTA EAEU đạt 482 tấn, tương đương 311.334 USD, chiếm 0,07% tổng lượng và 0,1% tổng trị giá, tăng 88,28% về lượng và tăng 97,31% về trị giá so với tháng 12/2025.

Nhìn chung, trong tháng 1/2026, tình trạng xuất cảng gạo VN, ghi nhận có sự phục hồi  về sản lượng, tập trung chủ yếu tại các thị trường Á châu, đặc biệt là Philippines và Trung Quốc, trong khi một số thị trường Phi châu và Âu châu biến động giảm. Tuy nhiên, kim ngạch không tăng, tương ứng với sản lượng cho thấy giá xuất cảng bình quân tiếp tục còn chịu áp lực trong ngắn và trung hạn.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 28-2-2026

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét