Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

                                      ĐẾ CHẾ MỸ VÀ CÁI MẶT NẠ DÂN CHỦ 

Nguồn tin từ Telepolis, với phần bình luận của Robert Schwierkus:  Chính sách đối ngoại của Mỹ chưa bao giờ hòa bình như nhiều người vẫn tin. Một nhà sử học chỉ ra lý do tại sao đường lối của Trump không phải là một bước đột phá, mà là sự trung thực. (Phần 3 và Kết luận)

Phần đầu của phân tích này đã đề cập đến một số khía cạnh chung của khái niệm "đế chế" và ý nghĩa của nó đối với tình hình Âu châu hiện nay. 

Phần thứ hai đề cập đến câu hỏi liệu những hồi ức hiện tại về lịch sử đế quốc Nga chủ yếu được giải thích bởi "bản chất Nga" hay bởi các điều kiện trong hệ thống quốc tế mà nước Nga hậu Xô Viết đang sống.

Đặc biệt liên quan đến những điều kiện này, việc xem xét lịch sử đế quốc và hiện tại của Hoa Kỳ, quốc gia trái ngược hoàn toàn với Nga, đã đạt đến đỉnh cao quyền lực sau khi Chiến tranh Lạnh lần thứ nhất kết thúc, là điều hợp lý. Quan điểm này dựa trên lập luận đã được thiết lập ở phần trước rằng chính sách đối ngoại của Nga không thể được giải thích một cách thực tế nếu bỏ qua tác động của chính sách đối ngoại của Mỹ.

Tương tự, một sự hiểu sai lệch về lịch sử Hoa Kỳ đang lan rộng. Do đó, một khía cạnh trọng tâm của phân tích này sẽ là đặt câu hỏi về những quan điểm hiện đang thịnh hành trong diễn ngôn chính trị Tây phương, mà, tóm lại, đại diện cho luận điểm rằng "[chúng ta đang ở giai đoạn đầu của một kỷ nguyên đế quốc mới, rời xa truyền thống của Hoa Kỳ với tư cách là một bá chủ nhân từ tôn trọng luật pháp quốc tế trong nửa sau thế kỷ 20]."

Trong bối cảnh những quan điểm như vậy, người ta thường nhấn mạnh rằng chính sách đối ngoại có vẻ thất thường của Trump thể hiện một kiểu quay trở lại chủ nghĩa đế quốc thô bạo của Mỹ trong quá khứ. Điều này được cho là hiển nhiên, trong số những điều khác, ở chỗ "[những] lý do biện minh cho những màn phô trương quyền lực và hành vi bạo lực của Trump [...] thường mâu thuẫn, tùy tiện hoặc hoàn toàn bịa đặt." Theo quan điểm này, Hoa Kỳ hiện đang quan tâm "đến quyền lực vì chính nó và thậm chí còn hơn thế nữa đến các cơ hội lợi nhuận."

Nhưng liệu đây có thực sự là một sự phát triển mới khi người ta xem xét một cách khách quan 250 năm chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ? Trái ngược với những cách giải thích như vậy, lập luận sau đây cho rằng các hiện tượng đang được xem xét không đại diện cho sự đoạn tuyệt thực sự với truyền thống đế quốc của Hoa Kỳ, mà cùng lắm chỉ là sự thoái lui về mặt hình thức từ lối hùng biện tự do, "mâu thuẫn giữa việc áp đặt dân chủ, thực thi tự do và bóc lột giải phóng", sang một hình thức truyền đạt trực tiếp hơn về lợi ích của Hoa Kỳ.

Từ Đế chế Lục địa đến Đế chế Bán cầu

Như Niall Ferguson đã lập luận một cách thẳng thắn đáng ngạc nhiên, mâu thuẫn này thực tế đã được khắc sâu trong ADN của Hoa Kỳ. Theo nghĩa này, Hoa Kỳ, mặc dù được hình thành trong lò luyện của một cuộc chiến chống đế quốc, đã thực hiện những bước đi đầu tiên hướng tới đế chế sau khi sáp nhập Texas năm 1845, California năm 1848, Alaska năm 1867, và Philippines, Puerto Rico, Hawaii và Guam năm 1898.

Thật vậy, lịch sử thế kỷ 19 của họ có thể được kể như một quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa đế quốc lục địa sang chủ nghĩa đế quốc bán cầu.

Về mặt tư tưởng, việc bành trướng lục địa ban đầu được biện minh, cũng giống như các quốc gia đế quốc trước đây và hiện nay, bằng cách viện dẫn một "vận mệnh hiển nhiên" được cho là để thống trị lục địa Bắc Mỹ và, bằng cách đó, văn minh hóa cư dân bản địa. "Trên thực tế," như Ferguson thừa nhận, "việc bành trướng đạt được thông qua sự kết hợp giữa lòng tham đất đai, lòng nhiệt thành tôn giáo và sức mạnh quân sự - chính xác theo thứ tự đó."

Rất lâu trước khi việc sáp nhập phần lớn Bắc Mỹ hoàn tất, và trước khi họ có khả năng hiện thực hóa những tham vọng này, Hoa Kỳ đã nhắm đến toàn bộ Tây bán cầu. Không có gì đáng ngạc nhiên, mâu thuẫn vốn có trong tinh thần Mỹ đã thấm nhuần vào lời lẽ của giới tinh hoa quyền lực ở Washington:

Nguồn gốc của chiến lược vĩ mô của Mỹ là một sự phủ định anh hùng; "học thuyết" được Tổng thống James Monroe tuyên bố năm 1823, trong đó thiết lập "như một nguyên tắc" "rằng các lục địa châu Mỹ, do vị thế tự do và độc lập mà chúng đã và đang nắm giữ, từ nay trở đi sẽ không được coi là đối tượng thuộc địa hóa trong tương lai của bất kỳ cường quốc châu Âu nào."

Ngoài câu chuyện lý tưởng hóa này, vốn gợi ý về sự giải phóng chung của tất cả các tiểu bang châu Mỹ khỏi ách thống trị thực dân của Âu châu, hiện nay người ta thường chấp nhận rằng "mối quan tâm chính của tổng thống là coi Nam Mỹ như một khu vực mở rộng kinh tế cho Hoa Kỳ." Về vấn đề này, câu hỏi đặt ra là sự khác biệt về chất lượng giữa điều này và cái gọi là "Học thuyết Donroe" là gì ?. 

Luận điểm cho rằng có một giai đoạn giữa Học thuyết Monroe và Học thuyết Donroe mà giới tinh hoa Hoa Kỳ không ngầm coi thường châu Mỹ Latinh và xem nó như "sân sau" của riêng họ khó có thể dung hòa với các bằng chứng liên quan.

Trên thực tế, hầu như không có gì tượng trưng cho tuyên bố quyền lực toàn cầu của Hoa Kỳ, điều vẫn tồn tại cho đến ngày nay, một cách công khai hơn là việc tự gọi mình là " Mỹ Châu". Như Daniel Immerwahr đã mô tả, đây là một sự thay đổi mà các nhà quan sát đương thời ngày càng nhận thấy vào khoảng năm 1900. Cho đến lúc đó, diễn ngôn của Hoa Kỳ chủ yếu đề cập đến Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sau năm 1898, người ta nhận thấy rằng 'những nhà hùng biện và nhà văn xuất sắc nhất', những người cảm thấy rằng 'Hoa Kỳ' không còn mô tả chính xác bản chất đất nước họ, đã chuyển sang xử dụng 'Mỹ'.

Điều quan trọng cần lưu ý trong bối cảnh này là cấu trúc chính trị mong muốn của Hoa Kỳ đã nhiều lần là chủ đề tranh luận của giới tinh hoa và, tất nhiên là ít quan trọng hơn, của quần chúng, đặc biệt là về vai trò mà Washington nên đóng trên phạm vi toàn thế giới. Stephen Wertheim đã chứng minh một cách thuyết phục rằng các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ từ lâu đã tìm cách duy trì "các cuộc trao đổi [quốc tế] hòa bình, ít nhất là bên ngoài Mỹ châu, mà không bị vướng vào các xung đột chính trị và quân sự ở Âu châu và Á châu."

Việc Hoa Kỳ can thiệp vào Chiến tranh Thế giới thứ nhất nhưng sau đó rút lui chắc chắn là một lập luận thuyết phục cho quan điểm này. Tương tự, việc Hoa Kỳ thiết lập được chỗ đứng chính trị và quân sự ở cả Âu châu và Á châu sau khi can thiệp vào Chiến tranh Thế giới thứ hai là bằng chứng không thể phủ nhận rằng lập trường này đã thay đổi trong thời gian đó.

Đã có rất nhiều bài viết về sự xuất hiện và tầm quan trọng của cái gọi là "trật tự quốc tế dựa trên luật lệ", mà theo quan điểm thông thường, Hoa Kỳ đã đóng vai trò hàng đầu trong việc xây dựng sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc. Tuy nhiên, ý tưởng thực sự cốt lõi của trật tự này và "chủ nghĩa quốc tế tự do" liên quan lại ít được thảo luận công khai hơn.

Theo Wertheim, khái niệm "quyền bá chủ/ưu việt toàn cầu" bắt đầu được chú ý vào đầu những năm 1940, khi Hoa Kỳ đối mặt với khả năng hai cường quốc bá chủ khu vực, Đế chế thứ ba và Đế quốc Nhật Bản,  thiết lập vị thế của mình ở Âu châu và Á hâu. Về bản chất, chiến lược bá chủ này của Hoa Kỳ cho rằng sức mạnh quân sự vượt trội của Hoa Kỳ là cần thiết để bảo đảm một trật tự thế giới tốt đẹp. Nó được giả định rằng, một cường quốc bá chủ nhân văn,  phải đóng vai trò là cơ quan thiết lập trật tự thế giới dùng để ngăn chặn trật tự quốc tế rơi vào hỗn loạn hoặc chuyên chế. Hơn nữa, Hoa Kỳ được cho là thực thể duy nhất phù hợp với vai trò này.

Một lần nữa, không có gì đáng ngạc nhiên khi ngay cả trong khuôn khổ tham vọng thế giới dường như mang tính cách mạng của Washington, người ta vẫn tìm thấy nghịch lý của việc cố gắng thực hiện một loại chủ nghĩa chống đế quốc bằng các phương pháp đế quốc:

Nói cách khác, cách duy nhất để thực hành chủ nghĩa quốc tế, để kiềm chế và vượt qua chính trị quyền lực, là phải làm chủ chính trị quyền lực. Hoa Kỳ đã tạo dựng một đế chế bá quyền toàn cầu của mình bằng cách che giấu khéo léo mâu thuẫn cơ bản này.

Theo Wertheim, quan niệm tự thân của Hoa Kỳ về việc có quyền hợp pháp đối với bá quyền toàn cầu kể từ đó đã trở thành một tiên đề không thể nghi ngờ ở Washington. Việc hình ảnh tự thân như vậy, và các thực tiễn chính trị bắt nguồn từ đó, sớm muộn gì cũng sẽ gặp phải sự phản kháng có lẽ có thể được coi là một quy luật lịch sử.

Thực tế về sức mạnh của Hoa Kỳ và những hậu quả của nó

Năm 2005, Stephen Walt viết rằng việc mô tả Hoa Kỳ là quốc gia hùng mạnh nhất kể từ thời La Mã đã trở thành một câu nói sáo rỗng. Tuy nhiên, cũng như hầu hết các câu nói sáo rỗng khác, câu này cũng chứa đựng một khía cạnh thực tế quan trọng. Phù hợp với tiên đề đã nêu, Walt nhận thấy rằng cuộc tranh luận trong nước về vị thế bá chủ của Hoa Kỳ, trong hầu hết các trường hợp, chỉ giới hạn ở cách tốt nhất để xử dụng sức mạnh to lớn này.

Hơn nữa, Walt chỉ ra rằng phần còn lại của thế giới coi bá quyền của Hoa Kỳ ngày càng gây bất ổn và đang bận tâm đến việc họ có thể làm gì để kiềm chế sức mạnh của Hoa Kỳ. Kết luận, ông kêu gọi Washington kiềm chế, lập luận rằng Hoa Kỳ cần học cách tiến hành chính sách đối ngoại của mình một cách khôn ngoan và kiềm chế hơn.

Hoa Kỳ phải học cách tiến hành chính sách đối ngoại của mình một cách khôn ngoan và kiềm chế hơn. Trong bối cảnh leo thang hiện nay ở Trung Đông, Walt, nhắc lại lời cảnh báo trước đó của mình, đã chỉ trích gay gắt chính quyền Trump. Tuy nhiên, ngay cả ông ta cũng mắc lỗi phân tích hoặc quá dễ dãi trong lời chỉ trích khi tuyên bố rằng Mỹ "trong 75 năm qua đã khá thành công" trong việc "xử dụng quyền lực một cách kiềm chế, tuân thủ các chuẩn mực được chấp nhận rộng rãi bất cứ khi nào có thể, và nỗ lực tạo ra các thỏa thuận với những bên khác có lợi cho tất cả các bên liên quan."

Trên thực tế, những thất bại của Washington về vấn đề này, và của Tây phương nói chung, đặc biệt là sau khi Chiến tranh Lạnh lần thứ nhất kết thúc, là rất nhiều.

Cũng giống như Hiệp ước La Mã "ban đầu chỉ mang tính tự lợi", một đánh giá khách quan về chiến lược bá quyền toàn cầu của Mỹ ít nhất cũng cho thấy động cơ như vậy; nói một cách thực tế, nó không dẫn đến kết luận nào khác. Như đã chỉ ra ngay từ đầu, nhiều điều cho thấy giai đoạn hiện tại chỉ đơn thuần là sự thoái lui về mặt giao tiếp, trở lại trạng thái mà giới tinh hoa Mỹ ưu tiên sự trung thực kiểu La Mã và ngừng giả vờ "rằng họ tạo ra đế chế của mình vì bất kỳ lý do nào khác ngoài lợi ích [của Washington]."

Việc liệu người ta có mô tả Hoa Kỳ là một đế chế hay không phụ thuộc vào cách định nghĩa thuật ngữ này, nhưng có lẽ điều đó chỉ là thứ yếu trong bối cảnh thực tế về sức mạnh của Hoa Kỳ. Nếu theo quan điểm của một nhà sử học Hoa Kỳ như Daniel Immerwahr, thì ngày nay thuật ngữ này chủ yếu được xử dụng như một thuật ngữ miệt thị, một đặc điểm không mấy thiện cảm. Đế chế, là những bạo chúa áp bức các quốc gia yếu hơn. Không khó để lập luận rằng Hoa Kỳ mang tính đế quốc theo khía cạnh này. 

Tuy nhiên, thuật ngữ đế chế không chỉ là một thuật ngữ miệt thị. Nó cũng là một cách để mô tả một quốc gia, dù tốt hay xấu, sở hữu các căn cứ và thuộc địa [bên ngoài lãnh thổ]. Về mặt này, đế chế không chỉ mô tả đặc điểm của một quốc gia, mà còn cả hình thức của nó. Và theo định nghĩa này, Hoa Kỳ chắc chắn đã từng là một đế chế và vẫn là một đế chế cho đến ngày nay.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-4-2026

 ĐỂ PHÒNG THỦ TRƯỚC PUTIN:  ĐỨC VÀ UKRAINE HỢP TÁC CHẾ TẠO HỆ THỐNG PHÒNG KHỒNG THAY THẾ PATRIOT- VỚI GIÁ RẺ

Nguồn tin từ các truyền thồng : Defense Express, Politico, Tagesschau, nghiên cứu cá nhân) (cdz) Merz và Selenskyj đã ký kết một thỏa thuận hợp tác quốc phòng tại Berlin. Đức và Ukraine được cho là đang nghiên cứu một hệ thống thay thế Patriot do Hoa Kỳ sản xuất.

Kiew/Berlin – Trong cuộc tham khảo giữa chính phủ Đức và Ukraine hôm thứ Ba (14 tháng 4), Thủ tướng Friedrich Merz (CDU) và Wolodymyr Selenskyj đã ký một thỏa thuận hợp tác quốc phòng. Một phần của thỏa thuận này là về "máy bay không người lái", có nghĩa là Đức và Ukraine dự định cùng nhau sản xuất máy bay không người lái trong tương lai. Hơn nữa, hai nước được cho là đang nghiên cứu một hệ thống thay thế cho hệ thống phòng không Patriot của Mỹ. Thông tin này đã được công bố từ hãng truyền thông Ukraine Defense Express.

Theo Defense Express, các kế hoạch này xuất phát từ văn bản thỏa thuận. Phần về hợp tác trong ngành kỹ nghệ quốc phòng đề cập cụ thể rằng các đối tác dự định đẩy nhanh việc sản xuất một hệ thống phòng thủ chống lại hỏa tiễn đạn đạo. Tuy nhiên, chi tiết vẫn chưa được công bố.

Liệu Merz và Selenskyj đang phát triển một hệ thống thay thế Patriot của Mỹ? Theo báo cáo của Defense Express, công ty Fire Point của Ukraine mới đây đã tuyên bố đề nghị các đối tác Âu châu cùng phát triển chương trình phòng thủ hỏa tiễn. Công ty này cho biết hệ thống như vậy có thể có chi phí thấp hơn đáng kể so với hệ thống Patriot của Mỹ. Việc chế tạo hệ thống này đòi hỏi các kỹ thuật tối tân, vì một số trong đó, không có sẵn trong ngành kỹ nghệ quốc phòng Ukraine. Theo Defense Express, các đối tác tiềm năng ở Đức bao gồm Diehl Defence, nhà sản xuất hệ thống phòng không IRIS-T SLM, vốn đã chứng tỏ hiệu quả ở Ukraine, và MBDA Germany, công ty liên doanh sản xuất hỏa tiễn cho hệ thống Patriot.

Hỏa tiễn cho hệ thống Patriot được sản xuất độc quyền bởi công ty Lockheed Martin của Mỹ và do đó số lượng có hạn. Tổng thống Ukraine đã nhiều lần cảnh báo trong những tháng gần đây rằng hỏa tiễn có thể trở nên khan hiếm do chiến tranh với Iran. Ông Merz giải thích hôm thứ Ba rằng ông Selenskyj cũng dự định thỏa thuận này sẽ củng cố sự độc lập của họ khỏi Mỹ. Chính quyền Trump đã nhiều lần chứng minh việc xử dụng hỗ trợ quân sự như một đòn bẩy.

Tại Berlin, Selenskyj và Merz thống nhất về sự hợp tác quốc phòng giữa Ukraine và Đức

Tuy nhiên, Ukraine và Đức vẫn tiếp tục dựa vào hệ thống hỏa tiễn Patriot: Đức dự định tài trợ một hợp đồng giữa Ukraine và công ty quốc phòng Raytheon để cung cấp vài trăm hỏa tiễn Patriot. Tuy nhiên, theo Defense Express, đây không phải là các hỏa tiễn PAC-3-MSE tối tân hơn, mà là mẫu PAC-2-GEM-T cũ hơn.

Tại Berlin, Merz nhấn mạnh rằng các thỏa thuận này không chỉ mang lại lợi ích cho Ukraine mà còn có lợi cho Đức và Âu châu. "Không có quân đội nào ở Âu châu được thử thách trong chiến đấu nhiều như quân đội Ukraine trong những thập niên gần đây", Merz nói hôm thứ Ba 14-4. "Không có ngành kỹ nghệ quốc phòng nào trở nên sáng tạo hơn ngành kỹ nghệ quốc phòng của Ukraine."

Selenskyj ca ngợi thỏa thuận này là "thỏa thuận lớn nhất thuộc loại này ở Âu châu." Ông nhấn mạnh rằng Âu châu phải phát triển năng lực sản xuất riêng của mình đối với các hệ thống phòng không và hỏa tiễn đánh chặn. "Chúng ta phải đảm bảo rằng chúng ta có khả năng cho phép người Âu châu sản xuất mọi thứ cần thiết cho việc phòng thủ Âu châu ngay tại Âu châu", Selenskyj nói. 

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-4-2026

 PHÓ TỔNG THỐNG JD VANCE KHUYÊN ĐỨC GIÁP HOÀNG LEO XIV NÊN  "THẬN TRỌNG"

Nguồn tin từ Der Spigel cho biết: Sau lời chỉ trích gay gắt của Donald Trump đối với Giáo hoàng, tiếp đó là Phó Tổng thống JD Vance, một người cải đạo sang Công giáo, cho rằng người đứng đầu Giáo hội không nói sự thật.

Phó Tổng thống Mỹ JD Vance đã kịch liệt bác bỏ lời chỉ trích của Giáo hoàng Leo XIV về cuộc chiến của Mỹ chống lại Iran và cho rằng Giáo hoàng nên “thận trọng” trong những đánh giá thần học của mình về chính trị hiện tại. Tại một sự kiện do tổ chức bảo thủ Turning Point USA tổ chức ở bang Georgia, Vance nói rằng điều quan trọng là những tuyên bố về thần học phải “dựa trên sự thật”. Cũng như một Phó Tổng thống Mỹ phải cẩn trọng khi nói về các vấn đề chính trị công khai, điều tương tự cũng áp dụng cho Giáo hoàng khi bày tỏ quan điểm thần học của mình.

Vance nhấn mạnh rằng ông ngưỡng mộ Leo XIV và không có phản đối cơ bản nào đối với việc Giáo hoàng bình luận về các sự kiện hiện tại. Tuy nhiên, ông không đồng ý với đánh giá của Giáo hoàng về cuộc xung đột ở Trung Đông. Tuần trước, Leo XIV tuyên bố trên mạng xã hội rằng Chúa không chúc phúc cho xung đột. “Bất cứ ai là môn đệ của Chúa Kitô, Hoàng tử Hòa bình, đều không bao giờ đứng về phía những kẻ từng cầm gươm và giờ đang ném bom,” Đức Giáo hoàng viết.

Vance đặt câu hỏi về tuyên bố này, dẫn chứng các ví dụ lịch sử và nhắc đến Thế chiến II: Vậy thì tuyên bố của Đức Giáo hoàng Leo có áp dụng cho việc quân đội Mỹ đổ bộ vào Pháp, góp phần giải phóng Âu châu khỏi Đức Quốc xã và giải cứu người dân khỏi các trại tập trung hay không? “Làm sao người ta có thể nói rằng Chúa không bao giờ đứng về phía những kẻ cầm gươm?” Vance hỏi.

Cuộc tranh cãi đang diễn ra trong bối cảnh căng thẳng leo thang giữa Vatikan và White House. Tổng thống Mỹ Donald Trump trước đó đã công khai chỉ trích Đức Giáo hoàng gốc Mỹ, gọi lập trường của ông về cuộc chiến tranh Iran là “yếu đuối”. Điều này đặt Vance vào một vị thế tế nhị: Ông là một trong những người Công giáo nổi bật nhất trong chính trường Mỹ và đã nhiều lần công khai nói về việc cải đạo sang Công giáo trong năm 2019.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-4-2026

  NGÀY CÀNG NHIỀU TIN TỨC CAY ĐẮNG ĐẾN VỚI "ÔNG TRÙM" LÀM CƠN                               GIẬN CỦA TRUMP GIA TĂNG DỮ DỘI

Nguồn tin từ News.de cho biết: Giá sản xuất tại Hoa Kỳ đã tăng trong tháng 3. Theo Cục Thống kê Lao động, chỉ số giá sản xuất điều chỉnh theo mùa đã tăng 0,5%. So với cùng thời gian năm ngoái, lạm phát ở cấp độ nhà sản xuất đã tăng tốc lên 4%. Đây là mức tăng mạnh nhất trong vòng 12 tháng kể từ tháng 2 năm 2023.

Donald Trump trở thành tâm điểm chú ý: Nỗi lo lạm phát ngày càng gia tăng

Đây là những con số mà Donald Trump sẽ không vui khi đọc qua. Xung đột quân sự với Iran đã đẩy giá năng lượng lên cao, làm dấy lên nỗi lo ngại về sự gia tăng lạm phát. Ngân hàng Bank of America ước tính rằng lạm phát tổng thể sẽ đạt khoảng 3,1% trong tháng 3, trong khi lạm phát lõi có thể tăng lên 3,5%. Vào tháng Hai, các con số này lần lượt ở mức 2,8% và 3%.

Chi phí năng lượng được chứng minh là nguyên nhân chính dẫn đến sự tăng vọt của Chỉ số Giá Sản xuất (PPI).

• Chỉ số xăng tăng 15,7%, chiếm khoảng một nửa tổng mức tăng PPI.

• Giá dầu Diesel tăng mạnh, vọt lên 42%.

• Giá dầu hỏa cũng tăng mạnh, với mức tăng 30,7%.

• Do chi phí năng lượng tăng cao, giá cả hàng hóa nói chung đã tăng 1,6%.

Donald Trump bị chế giễu: "Trumplation" trở thành từ ngữ thịnh hành

Trên mạng xã hội, Donald Trump đang phải đối mặt với làn sóng chỉ trích và giận dữ. Trên nền tảng X, người dùng đang bày tỏ sự thất vọng về lạm phát gia tăng và cáo buộc tổng thống phải chịu trách nhiệm về tình hình kinh tế. Thuật ngữ "Trumplation" đang được xử dụng để lên án việc giá cả tăng cao.

• Các nhà bình luận mỉa mai hỏi: "Ông đã chán chiến thắng rồi sao?" - ám chỉ những lời hứa tranh cử trước đây của Trump.

• Những người khác hỏi một cách châm biếm: "Chúng ta lại vĩ đại rồi sao?", ám chỉ khẩu hiệu nổi tiếng, thường xuyên được Trump sử dụng.

• Lời chỉ trích cũng nhắm vào cử tri của ông, với một người dùng viết rằng giờ đây mọi người sẽ phải trả giá.

• Các bình luận so sánh tình hình hiện tại với những thất bại kinh doanh trong quá khứ của Trump. Một người dùng cảnh báo rằng Trump sẽ làm điều tương tự với đất nước như ông đã làm với các công ty và sòng bạc trước đây của mình.

Những người khác đã dự đoán rằng những người ủng hộ Trump sẽ đổ lỗi cho người tiền nhiệm của ông, là Biden.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-4-2026

        XE TĂNG LEOPART 1A5 CỦA ĐỨC TRÊN CHIẾN TRƯỜNG UKRAINE            TRÚNG 52 PHÁT ĐẠN CỦA NGA - NHƯNG VẪN TIẾP TỤC DI CHUYỂN

Nguồn tin từ FOCUS-Online:  Binh sĩ Ukraine đang khai thác tối đa hiệu quả của xe tăng Leopard 1A5 so với tuổi đời của nó. Theo truyền hông "Mezha" của Ukraine công bố về việc một xe tăng Đức, đang được cải tiến và nâng cấp ở mặt trận. Các binh sĩ thuộc lữ đoàn đặc nhiệm giải thích rằng họ hài lòng với Leopard 1 hơn so với các mẫu xe tăng Liên Xô cũ như T-64 hay T-72.

Xe tăng Leopard trúng 52 phát đạn từ Nga

Leopard nhanh hơn đáng kể so với các xe tăng Liên Xô cũ, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tấn công và rút lui dưới hỏa lực. Pháo 105mm được coi là chính xác, người nạp đạn có thể nạp một viên đạn mới vào nòng súng cứ sau ba đến bốn giây, theo lời các binh sĩ. Hệ thống tự động trong các xe tăng khác mất nhiều thời gian hơn.

Trong một trận chiến ở Donbass, một chiếc Leopard 1A5 đã chịu được 52 phát đạn từ nhiều máy bay không người lái tấn công và cảm tử, theo đơn vị này. Xe tăng đã bị bắn phá gần như cả ngày. Chỉ khi giao tranh lắng xuống, kíp lái mới ra ngoài, khởi động động cơ và lái chiếc xe bị hư hại nhưng vẫn hoạt động được ra khỏi vùng nguy hiểm, theo trang thông tin chuyên ngành.

Ukraine tấn công mục tiêu từ khoảng cách 12 km

Cũng theo trang thông tin chuyên ngành "T&T" của Phần Lan, các trận chiến xe tăng kinh điển với tầm nhìn trực tiếp hiện nay rất hiếm. Máy bay không người lái phát giác hầu hết mọi phương tiện gần tiền tuyến và phát động tấn công. Do đó, nhiều xe tăng ban đầu vẫn giữ vị trí lùi xa hơn. Chúng chỉ tiến lên khi phía Nga bắt đầu các cuộc tấn công lớn.

Một số xe tăng Leopard 1 hiện đang bắn từ các vị trí cố định, tương tự như pháo binh. Kíp lái báo cáo tấn công mục tiêu ở khoảng cách lên đến 12 km và xử dụng ít đạn hơn đáng kể với Leopard so với xe tăng Liên Xô.

Xe tăng như "lồng thép" chống lại máy bay không người lái

Để chịu được hỏa lực liên tục, binh lính đang biến Leopard 1 thành một loại lồng thép: Một cấu trúc lưới được đặt trên tháp pháo. Khoang động cơ và phía sau được tăng cường thêm bằng các thanh kim loại và được bao phủ bằng xích.

Các khối thuốc nổ được gắn ở phía trước và hai bên để giảm tác động của đạn khi va chạm. Các bó dây cáp bị cắt đứt sẽ phá hủy các máy bay không người lái đang bay tới trước khi khối thuốc nổ đến gần xe tăng.

Tuy nhiên, cấu trúc thượng tầng đồ sộ hạn chế nghiêm trọng tầm nhìn của kíp lái. Do đó, binh lính đang lắp đặt các Camera ảnh nhiệt xung quanh tháp pháo. 4 Camera này cung cấp tầm nhìn 360 độ trên màn hình bên trong. Hình ảnh cũng sẽ được truyền đến sở chỉ huy thông qua Starlink. Theo "Mezha", ban đầu sẽ có 10 xe tăng Leopard 1A5 được trang bị hệ thống này, các cải tiến tiếp theo đang được lên kế hoạch.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-4-2026

 TẠI SAO VIKTOR ORBÁN LẠI TỪ BỎ QUYỀN LỰC NHANH CHÓNG ĐẾN MỨC ĐÁNG NGỜ NHƯ VẬY ?

Nguồn tin từ Frankfurter Allgemeine Zeitung:  Các trụ cột trong cấu trúc quyền lực của Viktor Orbán đang sụp đổ với tốc độ đáng kinh ngạc. Cho đến nay, đài truyền hình nhà nước là mũi nhọn của bộ máy tuyên truyền của Orbán. Nhưng ngay cả trong đêm bầu cử, nó đã tự điều chỉnh, đột nhiên đưa tin về người chiến thắng, Péter Magyar, một cách nghiêm chỉnh và hoàn toàn trung lập. Có tin đồn rằng các máy hủy tài liệu trong các bộ đang hoạt động hết công suất.

Theo các nguồn tin thân cận, Tòa án Hiến pháp đang trong tình trạng hoảng sợ tột độ. "Mọi thứ đã bị đình trệ; mọi người đang chờ xem điều gì sẽ xảy ra," một công chức cho biết. Và ngay cả Tổng thống Tamás Sulyok, người vẫn có thể cản trở việc chuyển giao quyền lực, đã công khai tuyên bố hôm thứ Tư 15-4,  ông đang hướng tới việc thành lập chính phủ nhanh chóng. Ông dự định đề cử Magyar làm thủ tướng.

Trong đêm bầu cử và những ngày sau đó, một chút hơi thở lịch sử bao trùm không gian Budapest. Đám đông trên bờ sông Danube dường như choáng ngợp khi Orbán đột ngột thừa nhận thất bại. Khi cuối cùng họ hiểu ra điều đó, niềm vui sướng tột độ bùng nổ trong cả người già lẫn người trẻ. Những người hoàn toàn xa lạ ôm nhau và cùng hát suốt đêm xuân. Trong các quán cà phê, trên tàu điện ngầm và trên đường phố, các cuộc trò chuyện kể từ đó liên tục xoay quanh chính trị.

Những người ủng hộ Tisza ăn mừng chiến thắng bầu cử của 
ông trên đường phố Budapest. © AFP

Người dân Hungary đã vùng lên và lật đổ một chế độ mà đa số không còn muốn nữa. Đối với nhiều người, điều này gợi nhớ đến năm 1989 đầy biến động. Chỉ có điều lần này, tình hình còn cấp bách hơn. Một người đàn ông trên đường phố nói: "Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội không chỉ xảy ra với người Hungary; động lực đến từ bên ngoài." Năm 2026, chính người dân sẽ tạo ra sự thay đổi và làm nên lịch sử. Từ "cách mạng" được nhắc đến thường xuyên trong những ngày này.

Nhiều người đã dự đoán Orbán sẽ chiến đấu để giữ vững quyền lực bằng mọi cách. Nhưng rõ ràng, chính ông ta cũng nhận ra rằng sức mạnh của các sự kiện quá lớn để có thể chống lại. Ông Magyar, người đã thể hiện sự nhạy bén về chiến lược trong chiến dịch tranh cử và đánh bại ông Orbán bất chấp đa số áp đảo, đang cho thấy rõ rằng cuộc chiến này còn lâu mới kết thúc. Ông đang thúc đẩy đà tiến lên bằng tất cả sức lực của mình.

Trên truyền hình nhà nước, nơi phỏng vấn người chiến thắng cuộc bầu cử vào sáng thứ Tư, ông không hề tỏ ra hòa giải. Trong chương trình phát hình trực tiếp, ông nói với người dẫn chương trình rằng ông dự định tạm thời đóng cửa bộ phận tin tức vì nó đã thoái hóa thành một "nhà máy tin giả". Chỉ hai giờ sau, ông tuyên bố với tổng thống, bằng giọng điệu lịch sự nhưng dứt khoát, rằng ông phải từ chức. Ông nói rằng ông Sulyok đã chứng tỏ mình không xứng đáng với chức vụ của mình. Tổng thống được cho là đã trả lời rằng ông sẽ xem xét các lập luận của ông Magyar.

Người chiến thắng cuộc bầu cử đang gửi tín hiệu hòa giải đến các quan chức cấp thấp hơn. Có rất nhiều người cung cấp cho phe đối lập thông tin về những gì thực sự đang xảy ra trong các bộ, ông nói với các phóng viên hôm thứ Hai 13-4. Ông sẽ cần những chuyên gia này để quá trình chuyển giao có thể diễn ra.

Ông Orbán muốn đánh bại chủ nghĩa tự do.

Như vậy, hệ thống quyền lực của Orbán đang sụp đổ trước mắt cả thế giới, cái "nhà nước phi tự do" mà ông hình dung trong bài phát biểu nổi tiếng năm 2014 như một mô hình đối trọng với chủ nghĩa tự do "không còn cạnh tranh" của Tây phương. Ông muốn đưa đất nước mình sánh ngang với các mô hình như Nga, Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ, trớ trêu thay lại đúng vào năm Nga xâm lược Krim. Hungary sẽ là một nền dân chủ, nhưng không phải là một nền dân chủ tự do theo nghĩa Tây phương . "Lợi ích quốc gia", ý chí của đa số và một nhà nước mạnh mẽ, kiểm soát chặt chẽ quan trọng hơn đối với Orbán so với các quyền tự do dân sự và sự phân chia quyền lực.

Viktor Orbán 3 ngày sau cuộc bầu cử ở Budapest © AFP

Trong một thời gian dài, tư tưởng của Orbán đã nhận được sự ủng hộ của đa số dân chúng. Thủ tướng đã đạt được kết quả bầu cử vang dội với chiến dịch chống lại các tập đoàn nước ngoài, các ngân hàng quốc tế và các chính sách di cư của Âu châu. Tuy nhiên, qua nhiều năm, những điểm yếu của "nhà nước phi tự do" đã được phơi bày, những điểm yếu mà ngay cả những người hâm mộ Orbán cũng nên xem xét kỹ lưỡng. Nền kinh tế Hungary sụp đổ vì những lời đề nghị tốt nhất trong cạnh tranh tự do không còn quan trọng; Thay vào đó, "lợi ích quốc gia" và các mối quan hệ quyền lực được ưu tiên. 

Orbán đã đuổi các tập đoàn quốc tế ra khỏi đất nước và thay thế chúng bằng những nhà tài phiệt trung thành, những người không phải đối mặt với sự cạnh tranh và tích lũy khối tài sản khổng lồ thông qua các hợp đồng của chính phủ.

Với nhánh hành pháp đầy quyền lực làm suy yếu sự phân lập quyền lực và kiểm soát lực lượng thực thi pháp luật, hệ thống thiếu đi bất kỳ sự kiểm soát và cân bằng nào. Tham nhũng đã tồn tại ở đất nước này trước đây, và nhiều người Hungary gần như coi đó là điều hiển nhiên. Nhưng họ chỉ chấp nhận hệ thống chừng nào nó còn mang lại lợi ích cá nhân cho họ. Khi giá cả tiếp tục tăng và cơ sở hạ tầng công cộng xuống cấp, sự giàu có đầy khiêu khích của nhóm quyền lực nhỏ của Orbán trở nên không thể chịu đựng được. Bộ máy truyền thông của Orbán, được củng cố bằng hàng triệu đô la tiền nhà nước,

Hungary được cho là một "nền dân chủ phi tự do", nghĩa là quyền lực được phân bổ không đồng đều, nhưng cũng như bất kỳ nền dân chủ nào, tính hợp pháp thông qua đa số là cần thiết. Orbán đã tàn nhẫn xử dụng các nguồn lực nhà nước để đàn áp và bôi nhọ đối thủ của mình. Nhưng ông ta đã không thực hiện bước cuối cùng là bỏ tù họ hoặc cấm các đảng của họ. Liệu điều này là do lý do chiến thuật hay niềm tin, chỉ có ông ta mới biết.

Điều này đã giúp Magyar giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử, dù không hề công bằng, nhưng ít nhất là tự do. Giờ đây, nhà lãnh đạo mới đắc cử phải nhanh chóng chứng minh rằng người dân sẽ tốt hơn trong một hệ thống tự do cổ điển, nếu không sự ủng hộ của cử tri có thể sớm chuyển sang hướng khác. Nhiều người Hungary thấy việc Orbán nhanh chóng thừa nhận thất bại là đáng ngờ. "Orbán đã nghĩ đến bước đi tiếp theo của mình rồi," một thanh niên suy đoán vào đêm bầu cử. "Ông ta công khai từ chức để sớm trở lại với tư cách là một nhà dân chủ đúng nghĩa."

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-4-2026

      ĐÀM PHÁN MỸ VÀ IRAN TIẾP TỤC - NHƯNG MỘT THỎA THUẬN CUỐI                              CÙNG CÒN RẤT XA MỚI CÓ THỂ ĐẠT ĐƯỢC

Những nỗ lực ngoại giao giữa Teheran và Washington vẫn đang ở giai đoạn khó khăn. Mặc dù cả hai bên đều đạt được tiến triển trong các cuộc đàm phán, nhưng một thỏa thuận vẫn còn rất xa vời.

Mohammed Bagher Ghalibaf, Chủ tịch Quốc hội Iran, nhấn mạnh trong một cuộc phỏng vấn rằng mặc dù có một số điểm bất đồng đã được giải quyết, nhưng vẫn còn một khoảng cách đáng kể giữa hai quốc gia. Ông tuyên bố rõ ràng: "Chúng ta vẫn còn rất xa một thỏa thuận cuối cùng."

Xung đột ở eo biển Hormuz

Eo biển có tầm quan trọng chiến lược này vẫn là điểm nóng. Sau khi Iran rút lại kế hoạch đã công bố về việc mở tuyến đường này, tình hình lại leo thang. Teheran biện minh cho hành động quân sự của mình chống lại các tàu bằng cách viện dẫn việc Mỹ đang phong tỏa các cảng của nước này.

Thông tin về Chiến tranh Iran

Mỹ và Israel đã phát động các cuộc tấn công bằng không quân và hỏa tiễn quy mô lớn chống lại Iran vào cuối tháng 2/đầu tháng 3 năm 2026 để phá hủy các chương trình hạt nhân và quân sự của nước này.

Lãnh đạo tối cao của Iran, Ayatollah Ali Khamenei, đã thiệt mạng trong các cuộc tấn công, dẫn đến việc tái tổ chức chế độ Iran.

Iran đã hạn chế và rải thủy lôi ở eo biển Hormuz, một tuyến đường chính cho vận chuyển dầu mỏ thế giới, đẩy giá năng lượng trên toàn thế giới tăng cao.

Xung đột đã tác động trực tiếp đến Âu châu, giá dầu và năng lượng, cùng nhiều thứ khác, đã tăng vọt kể từ đó.

Ấn Độ đã triệu tập đại sứ Iran sau khi hai tàu buôn treo cờ Ấn Độ bị cáo buộc bị tàu chiến Iran tấn công. Các tàu này buộc phải bỏ dở hành trình, mặc dù các báo cáo cho thấy không có thương vong.

Ghalibaf gọi việc phong tỏa hải quân của Mỹ là ngu ngốc và đe dọa sẽ áp đặt thêm các hạn chế đối với vận chuyển hàng hải nếu lệnh này không được dỡ bỏ. Tổng thống Mỹ Donald Trump dường như không hề nao núng trước những lời đe dọa của Iran, tuyên bố: "Chúng tôi đang có những cuộc đàm phán rất tốt ngay bây giờ. Mọi việc đang diễn ra rất tốt."

Thỏa thuận ngừng bắn và bất ổn khu vực

Các cuộc đàm phán ngắn hạn do Pakistan làm trung gian hiện đang diễn ra để gia hạn thỏa thuận ngừng bắn sẽ hết hạn vào thứ Tư (ngày 22 tháng 4). Các nhà đàm phán có thể gặp nhau sớm nhất vào thứ Hai (ngày 20 tháng 4) tại Islamabad để thảo luận về chương trình hạt nhân của Iran.

Trong khi đó, một thỏa thuận ngừng bắn mong manh đang được thiết lập ở Libanon giữa Israel và Hisbollah. Bất chấp thỏa thuận này, một sự việc đã xảy ra trong đó một binh sĩ dự bị của Israel thiệt mạng do chất nổ. Lãnh đạo Hisbollah, Naim Qassim, yêu cầu Israel rút quân khỏi Libanon như một điều kiện để đạt được hòa bình lâu dài.

Sự thay đổi 180 độ của Thủ Tướng Merz: Ông đột ngột xa lánh Trump , "Cách ông ấy làm điều này rất đáng ngạc nhiên."

Những lo ngại khác đang được đặt ra về sự an toàn của lực lượng gìn hòa bình Liên Hợp Quốc. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres đã mạnh mẽ lên án các cuộc tấn công vào phái bộ UNIFIL sau khi một binh sĩ Pháp thiệt mạng. Trong khi Pháp đổ lỗi cho Hisbollah về vụ việc này, nhưng lực lượng dân quân này phủ nhận mọi trách nhiệm.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-4-2026