Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

     EO BIỂN HORMUZ VẪN CÒN NHIỀU BẤT ỔN DO NGOẠI GIAO BẾ TẮC -              CÁC HOẠT ĐỘNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA VẪN BỊ GIÁN ĐOẠN

Mọi hy vọng về việc mở cửa lại eo biển Hormuz vẫn chưa có tiến triển cụ thể. Tờ Guardian Weekly cho biết, các nỗ lực giảm căng thẳng và mở cửa lại eo biển đã bị đình trệ, trong khi AP mô tả tuyến đường thủy này là trọng tâm của cuộc khủng hoảng sau khi Iran đe dọa đóng cửa và Mỹ đáp trả bằng cách phong tỏa các cảng và tàu của Iran.

Đối với các người dân và doanh nghiệp ở xa vùng Vịnh, sự bất ổn đã trở nên rõ rệt. Sự gián đoạn kéo dài ở Hormuz có thể khiến giá dầu và khí đốt duy trì ở mức cao, đẩy chi phí vận chuyển lên cao và ảnh hưởng đến giá nhiên liệu, vận tải hàng hóa và vé máy bay. Đó là lý do tại sao thị trường phản ứng mạnh mẽ với bất kỳ diễn biến mới nào từ khu vực. Tác động rộng lớn hơn này là kết quả của vai trò của eo biển trong giao dịch năng lượng và phản ứng của thị trường đối với cuộc xung đột.

Tại sao việc mở cửa lại vẫn còn nhiều bất ổn

Lý do chính là vấn đề an ninh vẫn chưa được giải quyết. Tờ Guardian loan tin rằng Iran đã rải thủy lôi dày đặc ở eo biển Hormuz và thậm chí có thể không biết vị trí của tất cả các quả thủy lôi đã rải. Điều này có nghĩa là việc mở lại eo biển không chỉ phụ thuộc vào ngoại giao mà còn phụ thuộc vào một chiến dịch rà phá bom mìn nguy hiểm và tốn nhiều thời gian.

Điều này ngụ ý rằng chỉ một thỏa thuận chính trị thôi có thể không đủ để nhanh chóng khôi phục giao thông hàng hải bình thường. Ngay cả khi căng thẳng giảm bớt, các chủ tàu, công ty bảo hiểm và lực lượng hải quân vẫn phải có thể dựa vào việc tuyến đường này an toàn về mặt vật lý để lưu thông. Kết luận này xuất phát từ mối đe dọa bom mìn được báo cáo và khó khăn trong việc rà phá chúng.

Giao thông hàng hải vẫn chưa trở lại bình thường.

Các báo cáo gần đây cho thấy tuyến đường thủy vẫn bị gián đoạn nghiêm trọng. CBS loan tin vào ngày 17 tháng 4 rằng eo biển vẫn thực tế bị đóng cửa đối với hầu hết các tàu thương mại, trong khi AP trước đó đã mô tả cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đến mức Washington bắt đầu phong tỏa các tàu ra vào các cảng của Iran trong nỗ lực buộc nó phải mở lại.

Sự gián đoạn không chỉ liên quan đến việc đóng cửa chính thức. Nó còn liên quan đến sự răn đe, rủi ro và kiềm chế. Ngay cả trước khi việc mở cửa hoàn toàn được xác nhận, các chủ tàu và công ty bảo hiểm phải quyết định xem tuyến đường có đủ an toàn hay không?. Điều này có thể trì hoãn quá trình bình thường hóa rất lâu sau khi các tiêu đề ngoại giao đã lắng xuống. Đánh giá này dựa trên tình trạng phong tỏa đang diễn ra và các biện pháp đang được chuẩn bị cho bảo hiểm hàng hải.

Áp lực quân sự đã gia tăng chứ không giảm.

Một lý do khác cho sự bất ổn là áp lực từ phía Mỹ tiếp tục gia tăng. Hãng tin AP đưa tin rằng quân đội Mỹ đã mở rộng hoạt động ra ngoài phạm vi phong tỏa và hiện có thể hành động chống lại các tàu thuyền liên kết với Iran trên toàn thế giới. Điều này cho thấy cuộc đối đầu trên biển đang leo thang chứ không phải hạ nhiệt.

Điều này tạo ra một tình thế khó xử cho ngoại giao. Washington đang cố gắng gây áp lực lên Teheran để mở lại tuyến đường hàng hải này, nhưng việc thực thi càng khó chuyển các cuộc đàm phán thành sự phục hồi kinh tế ổn định. Đánh giá này dựa trên việc đồng thời mở rộng các biện pháp chống lại vận tải biển và việc thiếu thông tin xác nhận về việc mở lại tuyến đường hàng hải qua eo biển Hormuz.

Tại sao thị trường vẫn lo lắng

Các nhà đầu tư đã phản ứng thận trọng với các báo cáo về lệnh ngừng bắn ở các khu vực khác trong vùng, eo biển Hormuz vẫn là rủi ro cấu trúc trung tâm. Tờ Barron’s cho biết, các nhà giao dịch dầu mỏ tiếp tục theo dõi sát sao, vì việc hạn chế di chuyển qua eo biển có thể khiến sự biến động cao, ngay cả khi tâm lý thị trường nói chung được cải thiện nhờ hy vọng ngoại giao.

Điều này giải thích tại sao thị trường lại thận trọng với mọi thông báo về lệnh ngừng bắn. Một thỏa thuận ngừng bắn ở Libanon có thể làm giảm một nguồn rủi ro trong khu vực, nhưng điều đó không tự động có nghĩa là dòng chảy dầu khí qua eo biển Hormuz lại an toàn. Kết luận này xuất phát từ sự khác biệt giữa việc giảm leo thang trên bộ và tình trạng bất ổn trên biển ở Vịnh Ba Tư.

Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?

Giai đoạn tiếp theo phụ thuộc vào hai điều xảy ra đồng thời: một thỏa thuận ngoại giao làm giảm nguy cơ tái diễn các cuộc đối đầu, và một biện pháp an ninh hàng hải đáng tin cậy chứng minh cho tàu thương mại thấy rằng eo biển có thể được xử dụng một cách an toàn. Tờ Guardian loan tin rằng việc rà phá thủy lôi bằng các hệ thống của Mỹ như tàu săn thủy lôi không người lái và trực thăng là khả thi, nhưng cũng cảnh báo rằng các hoạt động như vậy sẽ đặt thêm lực lượng vào nguy hiểm nếu giao tranh tiếp diễn.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 19-4-2026

      TÂY PHƯƠNG ĐÃ CÓ NHỮNG TÍNH TOÁN KHÔNG KHỚP VỚI KHO VŨ                                            KHÍ HỎA TIỄN CỦA IRAN

Theo Telepolis: Trong nhiều tuần, Iran đã phóng hàng trăm hỏa tiễn và máy bay không người lái mỗi ngày, và thậm chí còn tăng tốc độ ngay trước khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực.

Trong 5 tuần, Iran đã phóng hỏa tiễn và máy bay không người lái hàng ngày vào Israel, các quốc gia vùng Vịnh và các căn cứ của Mỹ trong khu vực. Vào ngày 2 tháng 3,  2 ngày sau khi chiến tranh bắt đầu, số lượng vụ phóng đạt cao điểm: Trung bình trong 3 ngày là 215 hỏa tiễn và 567 máy bay không người lái mỗi ngày, theo dữ liệu được tổng hợp bởi Dmitri Alperovitch, đồng sáng lập của Silverado Policy Accelerator, dựa trên báo cáo từ các bộ quốc phòng của UAE, Kuwait, Ả Rập Saudi, Bahrain và quân đội Israel.

Sau đó, Iran đã giảm đáng kể tốc độ phóng, mức trung bình ổn định ở mức khoảng 23 đến 40 hỏa tiễn và 60 đến 85 máy bay không người lái mỗi ngày. Trong những ngày ngay trước khi thỏa thuận ngừng bắn kéo dài hai tuần do Pakistan làm trung gian có hiệu lực vào ngày 8 tháng 4, con số này lại tăng lên: lên 37 hỏa tiễn và 85 máy bay không người lái vào ngày 6 tháng 4.

Cách tính toán này không phù hợp.

Ước tính thận trọng dựa trên dữ liệu của Alperovitch cho thấy mức tối thiểu ít nhất là 1.900 hỏa tiễn đạn đạo và 5.200 máy bay không người lái được phóng trong suốt 38 ngày chiến tranh. Chỉ riêng con số này đã đặt ra một vấn đề toán học đối với các ước tính của Tây phương . Các nguồn tin tình báo quân sự của Israel đã ước tính kho hỏa tiễn của Iran vào khoảng 2.500 trước khi chiến tranh bắt đầu, một con số được phần lớn các phân tích của Tây phương chấp nhận. Nhưng điều này đã không khớp với thực tế.

Hơn nữa, các nguồn tin ở Washington cho biết họ chỉ có thể khẳng định chắc chắn rằng 1/3 kho hỏa tiễn của Iran đã bị phá hủy và 1/3 khác bị hư hại hoặc không thể xử dụng được, như IranWatch đã báo cáo, trích dẫn từ các nguồn tin tình báo của Mỹ.

Nếu cộng thêm số vụ phóng hỏa tiễn ước tính vào số lượng hỏa tiễn bị phá hủy hoặc vô hiệu hóa theo các nguồn tin Tây phương, tổng cộng khoảng 3.560 hỏa tiễn. Con số này vượt quá kho dự trữ ban đầu được tuyên bố là 2.500 hỏa tiễn hơn 40%. Theo tính toán của Tây phương, Iran lẽ ra đã hết hỏa tiễn đạn đạo từ nhiều tuần trước. Nhưng thực tế khác hẳn, nước này còn thậm chí còn tăng tốc độ phóng hỏa tiễn trong những ngày trước khi lệnh ngừng bắn được ký kết.

Bốn thập niên sản xuất hỏa tiễn

Iran bắt đầu sản xuất hàng loạt hỏa tiễn đạn đạo từ năm 1994, ban đầu là Shahab-1, một mẫu được cấp phép dựa trên kỹ nghệ Hwasong-5 của Bắc Hàn với tầm bắn 300 km, được sản xuất trong Chiến tranh Iran-Iraq. Tiếp theo là mẫu Shahab-2, được sản xuất trong khoảng 15 năm, và sau đó, bắt đầu từ năm 2004, Shahab-3 được đưa vào xử dụng. Loại hỏa tiễn này được sản xuất cho đến năm 2008, trước khi các hệ thống tối tân  hơn thay thế nó.

Hỏa tiễn Sejjil đánh dấu một bước ngoặt, bởi vì với nó, Iran không còn chỉ là một nước được cấp phép xử dụng kỹ nghệ nước ngoài, mà là một nhà sản xuất hỏa tiễn độc lập với chuyên môn về kỹ nghệ sản xuất vũ khí vững chắc.

Vào tháng 9 năm 2025, Carl Parkin thuộc Trung tâm Nghiên cứu Không phổ biến vũ khí hạt nhân đã điều tra năng lực sản xuất thực tế của Iran dựa trên phân tích hình ảnh vệ tinh tinh vi về mặt phương pháp luận. Parkin đã đếm số hố phun,  những cơ sở bảo dưỡng được bao bọc bằng bê tông xây dựng dưới lòng đất, nơi sản xuất nhiên liệu rắn cho hỏa tiễn , tại ba địa điểm sản xuất được biết đến của Iran là: Shahroud, Khojir và Parchin, thu được tổng cộng từ 44 đến 56 hố. Với thời gian bảo dưỡng từ 6 đến 10 ngày mỗi hố, điều này tương đương với năng lực sản xuất từ ​​136 đến 217 hỏa tiễn với lực đẩy bằng nhiên liệu rắn mỗi tháng, khi được hoạt động hết công suất.

Tuy nhiên, những con số này dựa trên việc Parkin đã xác định thành công tất cả các hố phun trên khắp Iran,  một quốc gia có diện tích gấp khoảng 4,6 lần nước Đức.

Parkin giải thích ước tính thận trọng hơn đáng kể của Mỹ là 50 hỏa tiễn mỗi tháng bằng cách cho biết, Washington đã không tính đến dây chuyền sản xuất mới nhất ở Shahroud, hoàn thành năm 2024 và có 22 hố đúc mới, trong các tính toán của mình.

Để so sánh, Nga sản xuất khoảng 2.500 hỏa tiễn chính xác mỗi năm, nhà phân tích quân sự Patricia Marins viết. Ngay cả khi chấp nhận các ước tính được Reuters trích dẫn, cho rằng kho hỏa tiễn trước chiến tranh của Iran nằm trong khoảng từ 2.500 đến 6.000, câu hỏi đặt ra là làm thế nào một quốc gia với bốn thập niên lịch sử sản xuất, năng lực sản xuất lên tới 217 hỏa tiễn mỗi tháng gần đây và hàng trăm công ty chuyên biệt lại có thể tích lũy được một kho dự trữ khiêm tốn như vậy.

Hình ảnh vệ tinh hé lộ những khả năng bị đánh giá thấp

Cấu trúc chi phí xác nhận rằng ngành kỹ nghệ này hướng tới sản xuất hàng loạt. Máy bay không người lái Fateh-110 có giá khoảng 110.000 USD/chiếc khi sản xuất tại Iran, Zolfaghar khoảng 150.000 USD, và Sejjil khoảng 500.000 USD , thấp hơn nhiều so với các hệ thống tương đương của Nga như Tochka với giá lên đến 300.000 USD hoặc Iskander khoảng 3 triệu USD/chiếc, theo tài liệu của viện BIRM.

Khoảng cách giữa tuyên bố của Tây phương về khả năng của Iran và thực tế quan sát được, thậm chí còn rõ rệt hơn đối với kho vũ khí máy bay không người lái so với hỏa tiễn đạn đạo. Tổng năng lực sản xuất của Iran là khoảng 10.000 máy bay không người lái mỗi tháng trên tất cả các loại, như Trung tâm Khả năng phục hồi thông tin do Anh tài trợ đã nói với Reuters.

Tình báo quân sự Israel ước tính kho dự trữ máy bay không người lái Shahed-136 trước chiến tranh của Iran vào khoảng 80.000 chiếc, với sản lượng hàng ngày khoảng 400 chiếc, tờ The Observer công bố. Tuy nhiên, theo Alperovitch, trong giai đoạn cao trào của cuộc chiến, Iran chưa bao giờ phóng quá 60 đến 85 máy bay không người lái mỗi ngày, nhiều nhất là 1/4 của công suất sản xuất hàng tháng của nước này. Kho dự trữ tăng lên miễn là một phần các cơ sở sản xuất vẫn hoạt động.

Kho vũ khí máy bay không người lái: một sự chênh lệch thậm chí còn lớn hơn

Việc lực lượng Mỹ tuyên bố đã tấn công mọi địa điểm sản xuất đã biết không làm thay đổi cấu trúc này nhiều. Máy bay không người lái Shahed được thiết kế đơn giản một cách có chủ ý, đây là một đặc điểm thiết kế, chứ không phải là điểm yếu, Kelly Grieco của Trung tâm Stimson cảnh báo trang web kỹ nghệ DefenseScoop: Miễn là dữ liệu thiết kế, kiến ​​thức kỹ thuật và chuỗi cung ứng vẫn còn nguyên vẹn, việc chế tạo lại chỉ mất vài tháng. Về cơ bản, máy bay không người lái này bao gồm thân bằng sợi thủy tinh, động cơ, bộ điều khiển đơn giản và chất nổ, và về mặt lý thuyết có thể được sản xuất trong một xưởng sửa chữa tàu thuyền, Bloomberg đưa tin.

Hơn nữa, cơ sở hạ tầng ngầm đang chứng tỏ phần lớn là bất khả xâm phạm. Mặc dù 77% cửa hầm có thể nhìn thấy đã bị tấn công, hoạt động tại mỗi địa điểm nhanh chóng được nối lại, một thành phố hỏa tiễn gần Yazd, nằm sâu 450 mét trong đá Granit, đã hoạt động trở lại chỉ trong vài giờ, theo tình báo Mỹ, Trung tâm Soufan tiết lộ.

Cấu trúc đơn giản, khó phá hủy

Năm tuần chiến tranh, 13.000 mục tiêu bị tấn công, chi phí chiến tranh trực tiếp lên tới 35 tỷ đô la Mỹ cho phía Tây phương, và Iran đã bắn nhiều hỏa tiễn và máy bay không người lái hơn trong những ngày trước khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực so với tuần trước đó.

Những dữ liệu hiện có cho thấy một điều đáng lo ngại. Iran đã cố tình kiềm chế tốc độ phóng hỏa tiễn trong phần lớn thời gian chiến tranh, không bao giờ vượt quá một phần nhỏ năng lực sản xuất máy bay không người lái của mình,  từ các cuộc tấn công ồ ạt sang các cuộc tấn công có mục tiêu với độ chính xác ngày càng cao nhằm vào cơ sở hạ tầng và hệ thống phòng thủ, như các nhà phân tích đã lưu ý với tờ Washington Post.

Cơ sở hạ tầng sản xuất ngầm vẫn còn nguyên vẹn phần lớn, và các chuyên gia ước tính rằng việc xây dựng lại các cơ sở sản xuất bị phá hủy chỉ mất vài tháng. Với khả năng sản xuất lên tới 217 hỏa tiễn đạn đạo và 10.000 máy bay không người lái mỗi tháng, Iran có lẽ chỉ xử dụng một phần nhỏ kho vũ khí thực tế của mình, giả sử các ước tính của Tây phương về khả năng sản xuất của nước này là chính xác dù chỉ ở mức độ tương đối. Và diễn biến của cuộc chiến thực tế đã cho thấy rõ điều đó.

Vũ Thái An, người lính VNCH ngày 19-4-2026

CỰU TỔNG THỐNG CỦA MYANMAR WIN MYINT ĐÃ ĐƯỢC TRẢ TỰ DO 

Nguồn tin từ các truyền thông pgr/AR (dpa, afp, rtr): Chính quyền quân sự Myanmar đã trả tự do cho hàng nghìn tù nhân nhân dịp năm mới, giảm án tử hình xuống tù chung thân và giảm án tù. Một số tù nhân nổi tiếng nằm trong số những người được hưởng lợi, nhưng cuộc khủng hoảng chính trị vẫn tiếp diễn.

Theo truyền thông nhà nước, hơn 4.300 tù nhân đã được ân xá ở Myanmar, trong đó có 179 người nước ngoài. Tổng thống Min Aung Hlaing cũng tuyên bố rằng tất cả các án tử hình sẽ được giảm xuống tù chung thân.

Tên của những người được ân xá không được công bố. Hơn nữa, các bản án tù dưới 40 năm sẽ được giảm 1/6.

Trong số những người được trả tự do có cựu Tổng thống Win Myint. Ông bị bắt cùng với lãnh đạo lúc bấy giờ là Aung San Suu Kyi sau cuộc đảo chính quân sự ngày 1 tháng 2 năm 2021. Sau đó, tòa án đã kết án ông hơn 9 năm tù với nhiều tội danh khác nhau, bị quốc tế chỉ trích là có động cơ chính trị.

Bà Suu Kyi, người đoạt giải Nobel Hòa bình nổi tiếng thế giới hiện vẫn đang còn bị giam giữ, cũng được hưởng lợi từ lệnh ân xá. Bản án 27 năm tù ban đầu của bà, dựa trên nhiều tội danh bao gồm tham nhũng, gian lận bầu cử và vi phạm luật bí mật nhà nước, đã được giảm 1/6. Theo luật sư của bà, liệu bà cụ 80 tuổi có được phép thi hành phần còn lại của bản án dưới hình thức quản thúc tại gia hay không vẫn chưa rõ.

Tướng Min Aung Hlaing (2023): Tổng thống Myanmar từ đầu tháng Tư © Aung Shine Oo/AP Photo/picture alliance

Ngoài các tù nhân chính trị nổi tiếng, các nhân vật văn hóa cũng được trả tự do. Theo các báo cáo truyền thông, trong số đó có nhà làm phim tài liệu từng đoạt giải thưởng Shin Daewe, người bị kết án tù chung thân vào năm 2024. Cảnh tượng bên ngoài nhà tù Insein khét tiếng ở Yangon cho thấy hàng trăm người thân đang chờ đợi thông tin về số phận của các thành viên gia đình bị giam cầm.

Lệnh ân xá bị lu mờ bởi sự củng cố quyền lực gây tranh cãi

Lệnh ân xá này không phải là lần đầu tiên: Lãnh đạo quân đội đã trả tự do cho các tù nhân nhiều lần vào các ngày lễ quốc gia. Tuy nhiên, làn sóng ân xá hiện tại là lần thứ3 trong vòng6 tháng và trùng hợp với các biện pháp chính trị khác.

Ví dụ, chính quyền quân sự đã tổ chức bầu cử quốc hội vào tháng 12 và tháng 1, bị quốc tế chỉ trích là không tự do và không công bằng. Đúng như dự đoán, Đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển (USDP) do quân đội hậu thuẫn đã giành chiến thắng.

Đầu tháng 4, Tư lệnh Quân đội Min Aung Hlaing được quốc hội do quân đội kiểm soát bầu làm tổng thống. Giới phê bình xem đây không phải là bước tiến tới bình thường hóa dân chủ, mà là sự củng cố hơn nữa quyền lực của quân đội.

Xung đột kéo dài với nhiều chỉ trích quốc tế

Kể từ cuộc đảo chính quân sự năm 2021, Myanmar đã rơi vào cuộc khủng hoảng chính trị và xã hội nghiêm trọng. Việc lật đổ chính phủ được bầu cử dân chủ đã gây ra các cuộc biểu tình trên toàn quốc, bị chính quyền quân sự đàn áp dữ dội. Điều này dẫn đến cuộc xung đột vũ trang kéo dài giữa quân đội và các nhóm kháng chiến khác nhau.

Các tổ chức nhân quyền cáo buộc lãnh đạo quân đội nhắm mục tiêu vào các thành viên phe đối lập và ngày càng xử dụng nhiều án tử hình. Theo Liên Hợp Quốc, hơn 130 người đã bị hành quyết trong năm sau cuộc đảo chính. Trong bối cảnh đó, việc giảm án tử hình được công bố gần đây được coi là một bước tiến quan trọng, nhưng cho đến nay nó vẫn chưa làm thay đổi đáng kể tình hình chính trị cơ bản ở nước này.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 19-4-2026

 MỸ CHẤP THUẬN THƯƠNG VỤ MUA BÁN VŨ KHÍ HÀNG TỶ USD VỚI ĐỨC                             NHẰM TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH CHO NATO

Nguồn tin từ WELT cho biết: Mỹ đã phê duyệt một thương vụ xuất cảng vũ khí trị giá hàng tỷ đô la cho Đức. Thỏa thuận này bao gồm việc cung cấp các hệ thống chiến đấu và Radar tối tân cho tàu chiến. Mục tiêu là tăng cường khả năng phòng thủ và làm sâu sắc thêm sự hợp tác trong Liên Minh NATO.

Mỹ đã phê duyệt việc bán hàng quân sự trị giá khoảng 10 tỷ Euro cho Đức. Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo rằng họ đã chấp thuận yêu cầu tương ứng từ chính phủ Đức.

"Thương vụ theo kế hoạch này hỗ trợ các mục tiêu chính sách đối ngoại và an ninh của Mỹ bằng cách tăng cường an ninh cho một đối tác NATO," tuyên bố trên đã cho biết. Đức là một lực lượng đóng góp vào sự ổn định chính trị và tiến bộ kinh tế ở Âu châu.

Cụ thể, Đức dự định mua, trong số những thứ khác như, 8 hệ thống chiến đấu kết hợp, hệ thống Radar tối tân và hệ thống phóng hỏa tiễn, các cơ phận sẽ cho phép tàu chiến phát giác và chống lại các mối đe dọa từ sớm và kết nối với các đơn vị NATO khác. Mục tiêu, theo thông báo, là tăng cường khả năng phòng thủ quốc gia và tập thể của Hải quân Đức và cải thiện sự hợp tác với lực lượng Mỹ và NATO.

Thỏa thuận đã được đệ trình lên Quốc hội Mỹ, nơi vẫn có thể đưa ra phản đối. Các nhà thầu chính sẽ là các nhà thầu quốc phòng của Mỹ, Lockheed Martin và RTX Corporation.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 19-4-2026

 TRUMP PHỦ NHẬN VIỆC TRAO ĐỔI TIỀN BẠC TRONG THỎA THUẬN MUA                                   HÀNG TỶ USD URANIUM CỦA IRAN

Nguồn tin N-TV cho biết : Mỹ cáo buộc Teheran đang trên bờ vực chế tạo vũ khí hạt nhân. Tổng thống Trump cũng xử dụng cáo buộc này để biện minh cho cuộc chiến chống lại Iran. Giờ đây, theo một báo cáo, các cuộc đàm phán đang diễn ra cho một thỏa thuận sẽ đề nghị Iran tiền để đổi lấy Uranium làm giàu của Iran. Nhưng Trump đã hạ thấp tầm quan trọng của những tuyên bố này.

Theo Tổng thống Donald Trump, Iran sẽ không nhận được bất kỳ khoản tiền nào để từ bỏ kho dự trữ Uranium được làm giàu cao của mình. Hoa Kỳ sẽ nhận được Uranium của Teheran, và sẽ không có bất kỳ khoản chuyển tiền nào. "Không có tiền được trao đổi", ông viết trên TruthSocial của mình. Trump không trực tiếp đề cập đến Uranium được làm giàu cao, được cho là nằm rất sâu bên dưới các cơ sở hạt nhân của Iran. Thay vào đó, ông gọi nó là "bụi hạt nhân", một thuật ngữ mà ông thường xuyên xử dụng để mô tả trữ lượng Uranium của Iran.

Truyền thông "Axios" trước đó đã đưa tin về một kế hoạch chấm dứt chiến tranh, mà Mỹ và Iran hiện đang đàm phán. Một trong những vấn đề đang được thảo luận là liệu Mỹ có tháo khoán 20 tỷ USD (khoảng 16,9 tỷ Euro) tiền của Iran bị đóng băng trong cơ sở dữ liệu hay không?, hãng tin này tiết lộ, được trích dẫn từ 2 quan chức Mỹ và các cá nhân khác quen thuộc với các cuộc đàm phán. Đổi lại, Teheran sẽ phải từ bỏ kho dự trữ Uranium được làm giàu cao của mình, báo cáo cho biết.

Số tiền bị đóng băng là tài sản của Iran được giữ trong các ngân hàng quốc tế. Mục đích của chúng là để phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái của đồng rial Iran. Tuy nhiên, các lệnh trừng phạt chống lại Iran ngăn cản chế độ này xử dụng chúng. Giá trị chính xác của các tài sản này vẫn chưa rõ ràng. Theo một báo cáo của truyền hình Euronews, các ước tính cho thấy con số này vượt quá 100 tỷ USD, hoặc khoảng 86,5 tỷ Euro.

Axios dẫn lời một quan chức Mỹ cho biết thỏa thuận tiền đổi lấy Uranium là một đề nghị của Mỹ. Theo các báo cáo, Mỹ đã sẵn sàng giải ngân 6 tỷ đô la cho Iran trong giai đoạn đàm phán trước đó để nước này mua lương thực, thuốc men và các viện trợ nhân đạo khác. Tuy nhiên, phía Iran được cho là đã yêu cầu 27 tỷ đô la. Một quan chức Mỹ khác cho biết,  đây chỉ là một trong nhiều giải pháp đang còn được thảo luận.

"Không thông qua báo chí"

Thư ký báo chí White House, Anna Kelly tuyên bố rằng Washington và Teheran đang tiếp tục các cuộc đàm phán mang tính xây dựng. Các cuộc đàm phán sẽ được tiến hành "không thông qua báo chí". Chỉ những tuyên bố của Trump hoặc White House đưa ra, mới được coi là sự thật.

Theo Axios, một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Mỹ là bảo đảm rằng Iran không được xử dụng gần 2.000 kg Uranium làm giàu được cho là đang được cất giữ trong các cơ sở hạt nhân ngầm của nước này. Mỹ đặc biệt quan tâm đến 450 kg Uranium được cho là đã được làm giàu đến độ tinh khiết 60%.

Trả lại "bụi hạt nhân"

Theo các tuyên bố trước đó của Trump, Iran đã đồng ý giao lại kho dự trữ Uranium làm giàu của mình. "Họ đã đồng ý giao lại bụi hạt nhân cho chúng tôi", Trump nói với các phóng viên ở Washington hôm thứ Năm 16-4, mà không nói rõ chi tiết. Ông nói thêm rằng cả hai nước "rất gần" đạt được một thỏa thuận hòa bình. "Có cơ hội rất tốt là chúng ta sẽ đạt được một thỏa thuận."

Hơn nữa, ông Trump cho biết hôm thứ Năm rằng các nhà đàm phán của Mỹ và Iran sẽ gặp nhau vào cuối tuần này để tiến hành vòng đàm phán thứ hai nhằm hoàn tất thỏa thuận. Theo một nguồn tin quen thuộc với các nỗ lực hòa giải, các cuộc đàm phán dự kiến ​​sẽ diễn ra vào Chủ nhật 19-4 tại Islamabad. Pakistan đang làm trung gian hòa giải các cuộc đàm phán, với sự hỗ trợ từ Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ.

Các nước Tây phương đã cáo buộc Iran theo đuổi vũ khí hạt nhân trong nhiều năm. Teheran phủ nhận điều này và tuyên bố rằng họ chỉ có ý định xử dụng chương trình hạt nhân của mình cho mục đích dân sự. Ông Trump cũng biện minh cho cuộc chiến chống lại Iran bằng cách tuyên bố rằng Teheran đang trên bờ vực chế tạo vũ khí hạt nhân và do đó "sớm" có thể tấn công cả Mỹ.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 19-4-2026

LIÊN MINH DO ÂU CHÂU DẨN ĐẦU ĐANG CHUẨN BỊ TÀU CHIẾN VÀ TÀU PHÁ THỦY LÔI CHO SỨ MỆNH HORMUZ

Liên minh, chủ yếu gồm các nước NATO, trong đó có sự hiện diện của Nam Hàn, Úc và Nhật Bản, sẽ họp tại Paris vào thứ Sáu 17-4. Dự kiến ​​họ sẽ công bố những nét chính của kế hoạch mở lại hoạt động vận chuyển hàng hải qua eo biển Hormuz.

Sứ mệnh này sẽ bao gồm các tàu chiến, tàu hộ tống, lực lượng hải quân, cơ quan tình báo, hoạt động rà phá thủy lôi và khả năng Radar. Một số quốc gia Âu châu đã điều động tàu đến khu vực này, Euronews đã xác nhận.

Kể từ khi Mỹ và Israel tiến hành các cuộc không kích chống lại Iran vào ngày 28 tháng 2, và Iran sau đó đóng cửa tuyến đường vận chuyển quan trọng này, các nhà lãnh đạo Âu châu đã phải chịu nhiều áp lực. Nền kinh tế thế giới, và đặc biệt là châu Âu, đã bị ảnh hưởng bởi sự phong tỏa của Iran.

Việc tiếp tục đóng cửa eo biển Hormuz, trước hết là bởi Iran và bây giờ là bởi Mỹ, sẽ gây ra thiệt hại kinh tế lớn hơn nữa nếu không đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài.

Các cuộc đàm phán gián tiếp đang được tiến hành để gia hạn thỏa thuận ngừng bắn hiện tại. Có hy vọng rằng thỏa thuận có thể được gia hạn sau ngày 22 tháng 4.

White House "có cảm nhận tốt về triển vọng đạt được thỏa thuận," Thư ký báo chí Mỹ, bà Karoline Leavitt nói với các phóng viên ở Washington hôm thứ Tư 15-4.

Thủ tướng Merz: Đức sẽ chỉ tham gia sau khi có lệnh ngừng bắn.

Các chiến lược gia quân sự từ NATO và các thành viên liên minh khác đã làm việc về kế hoạch này trong những tuần gần đây. Những người chịu trách nhiệm cho nhiệm vụ này quyết tâm rằng nhiệm vụ sẽ "hoàn toàn mang tính phòng thủ." Họ không sẵn sàng tham gia vào một cuộc xung đột nóng bỏng và tốn kém ở Iran.

Hòa Lan đã điều động các tàu khu trục và nhân viên quân sự để chuẩn bị cho việc khởi động một chiến dịch trong tương lai.

"Mục tiêu là vượt qua giai đoạn lập kế hoạch hiện tại và chuẩn bị các tàu trong khu vực sẵn sàng hành động khi xung đột lắng xuống," một nguồn tin của NATO nói với Euronews. "Nhưng nó sẽ tập trung vào khía cạnh phòng thủ, với tàu chiến, trang bi các phương tiện cảm biến, Radar và các biện pháp chống thủy lôi," nguồn tin này đã tiết lộ.

Cuộc họp sẽ được tổ chức theo hình thức kết hợp. Hầu hết các quốc gia sẽ tham gia trực tuyến, trong khi Thủ tướng Anh Keir Starmer và Thủ tướng Đức Frederich Merz sẽ gặp Tổng thống Pháp Emmanuel Macron trực tiếp tại Điện Élysée.

Thủ tướng Merz cho biết hôm thứ Năm 16-4,  sự tham gia của Đức vào một nhiệm vụ để bảo đảm an ninh eo biển chỉ có thể diễn ra sau khi có "ít nhất là một lệnh ngừng bắn tạm thời" và sự chấp thuận của chính phủ Berlin và quốc hội.

Merz: "Chúng ta vẫn còn một chặng đường dài phía trước."

Các nước NATO nhấn mạnh rằng cuộc chiến không phải là trách nhiệm của họ vì họ không được tham khảo trước. Tuy nhiên, họ đã được thúc giục trình bày một kế hoạch sẽ "khôi phục hoạt động của eo biển". Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đưa ra tối hậu thư cho các đồng minh NATO phải trình bày một kế hoạch như vậy "trong vòng vài ngày".

Trump đã làm rõ lập trường của mình với Tổng thư ký NATO Mark Rutte trong chuyến thăm chính thức Washington tuần trước.

"Có thể nói rằng Tổng thư ký NATO đã rút ra một số kết luận từ cuộc trò chuyện với ông Trump trong chuyến thăm White House", nguồn tin NATO nói với Euronews. “Ông Trump thực sự rất thất vọng, và điều đó đã cho thấy rõ rằng chúng ta cần phải hành động,” nguồn tin cho biết thêm.

Các biện pháp hoàn toàn mang tính phòng thủ

Việc phong tỏa đã có tác động đáng kể đến nền kinh tế thế giới: Cả vận tải biển quốc tế và giá dầu khí thế giới đều tăng mạnh. Khoảng 20% ​​sản lượng dầu thế giới phải đi qua eo biển chiến lược quan trọng giữa Iran và Oman, một liên kết thiết nối giữa Vịnh Ba Tư và Vịnh Oman.

Trong khi Teheran tiếp tục cho phép xuất cảng dầu của mình đi qua, nước này cũng mở cửa cho một số đối tác được lựa chọn như Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ.

Hôm thứ Hai, Donald Trump đã đáp trả bằng việc Mỹ phong tỏa vận chuyển hàng hóa đến và đi từ các cảng của Iran. Mục tiêu là tăng áp lực lên các đồng minh của Iran và thuyết phục Teheran dỡ bỏ lệnh phong tỏa của chính họ. Đồng thời, nó nhằm mục đích ngăn chặn Iran tiếp tục thu lợi từ việc xuất cảng dầu mỏ.

Nhiệm vụ cụ thể của chiến dịch dự kiến ​​vẫn chưa rõ ràng. Việc NATO chấp thuận được cho là khó xảy ra,  đặc biệt là vì các quốc gia tham gia nhấn mạnh rằng Mỹ, với tư cách là một bên trong cuộc xung đột, không nên tham gia vào chiến dịch này.

“Liên minh muốn bảo đảm rằng sứ mệnh này không liên quan đến các bên tham chiến, cụ thể là Mỹ và Israel,” một người quen thuộc với kế hoạch này đã nói với Euronews về việc này.

Emmanuel Macron cũng nhấn mạnh rằng đây là một "nhiệm vụ hoàn toàn mang tính phòng thủ" và hoàn toàn tách biệt khỏi các bên xung đột.

Một ủy quyền của Liên Hợp Quốc hoặc việc mở rộng nhiệm vụ của EU trong Chiến dịch Aspides hiện đang được thảo luận như những cơ sở pháp lý khả thi. Tuy nhiên, việc đạt được một thỏa thuận tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc được cho là rất khó khăn.

Mặc dù nhiều quốc gia sẵn sàng tham gia, các chuyên gia cảnh báo về những rủi ro đáng kể. "Luôn có nguy cơ bị cuốn vào một cuộc xung đột lớn hơn," Ed Arnold, một chuyên gia an ninh tại Viện Nghiên cứu Quân sự Hoàng gia Anh, cho biết.

Ông đánh giá: "Nếu bạn không sẵn sàng tiến hành chiến tranh, có lẽ bạn thậm chí không nên bước đi bước đầu tiên, bởi vì Iran nhận thức được rằng Âu châu sở hữu sức mạnh răn đe đáng kể."

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 19-4-2026

       TẠI SAO CÁC LIÊN MINH QUÂN SỰ LẠI THAY ĐỔI TRONG CÁC CUỘC                                        XUNG ĐỘT Ở TRUNG ĐÔNG ? 

Bài bình luận từ Walking Archive - Các liên minh quân sự ở Trung Đông thay đổi khi các chính phủ quyết định rằng kẻ thù chính của ngày hôm qua không còn là mối đe dọa lớn nhất của ngày hôm nay. Trên thực tế, điều này có thể có nghĩa là các đối thủ cũ mở lại các phần liên lạc, bảo đảm các đối tác chính thức, hoặc giảm cấp các mối quan hệ ủy nhiệm khi chúng trở nên quá tốn kém hoặc rủi ro. Các phân tích gần đây từ khu vực mô tả chính xác sự tái cân bằng cấu trúc này: chiến tranh, sự thất bại trong răn đe và sự thay đổi quyền lực đang buộc các quốc gia phải đánh giá lại ai bảo sẽ vệ họ, ai đe dọa họ và ai vẫn có thể mang lại kết quả.

Đối với thường dân, những thay đổi liên minh như vậy không phải là ngoại giao trừu tượng. Chúng có thể quyết định liệu một cuộc chiến được kiềm chế hay leo thang, liệu các cường quốc bên ngoài có tiếp tục trang bị vũ khí cho các bên tham chiến địa phương hay không, và liệu các khu vực biên giới có trải qua sự giảm leo thang hay sự trả đũa mới. ICRC từ lâu đã cảnh báo rằng các cuộc xung đột ở Trung Đông có thể leo thang thành các phản ứng dây chuyền khu vực nguy hiểm, với những hậu quả nghiêm trọng đối với thường dân, người dân phải di dời và các xã hội vốn đã mong manh.

Nhận thức về mối đe dọa thay đổi nhanh hơn hệ tư tưởng

Động lực quan trọng nhất của sự thay đổi liên minh thường là nhận thức về mối đe dọa. Các quốc gia có thể cùng chung một tôn giáo, một hệ tư tưởng, hoặc một lịch sử lâu dài về sự cạnh tranh, nhưng những yếu tố này thường lùi vào hậu trường khi một mối nguy hiểm khác được nhận thấy là cấp bách hơn. Ví dụ, Hiệp định Abraham phản ánh sự xích lại gần nhau dựa trên nhận thức chung về mối đe dọa và triển vọng hợp tác an ninh và kinh tế chặt chẽ hơn, chứ không phải sự biến mất đột ngột của những khác biệt chính trị cũ.

Logic này hoạt động theo nhiều hướng. Một quốc gia trước đây ưu tiên đối đầu với Iran sau đó có thể tập trung hơn vào ổn định kinh tế, an ninh hàng hải, hoặc kiềm chế tác động của các cuộc xung đột bắt nguồn từ Gaza, Libanon, Syrien hoặc Yemen. Các phân tích gần đây của Carnegie về an ninh khu vực nhấn mạnh rằng định hướng ở Trung Đông ngày càng được thúc đẩy bởi những nỗ lực thực tế nhằm hạn chế leo thang, kiềm chế tác động và tránh các cuộc chiến tranh tiêu hao mới, ngay cả khi các xung đột cơ bản vẫn chưa được giải quyết.

Mạng lưới ủy nhiệm hình thành và tan rã

Một lý do quan trọng khác cho sự thay đổi liên minh là các mối liên hệ ủy nhiệm không phải là tĩnh. Chúng phụ thuộc vào tiền bạc, kết quả trên chiến trường, tính hợp pháp tại địa phương và khả năng chịu rủi ro của bên ủng hộ. Mạng lưới các đối tác võ trang của Iran từ lâu đã là trụ cột chính trong định hướng khu vực của nước này, mang lại cho Teheran ảnh hưởng ở một số khu vực xung đột mà không cần đến chiến tranh thông thường trực tiếp. CFR mô tả mạng lưới này là một công cụ quan trọng của quyền lực Iran trong khu vực.

Tuy nhiên, các hệ thống ủy nhiệm như vậy có thể mất đi hiệu quả. Một phân tích gần đây của Trung tâm Belfer thuộc Đại học Harvard kết luận rằng mô hình ủy nhiệm của Iran đã bước vào giai đoạn suy yếu về cấu trúc. Điều này rất quan trọng bởi vì khi một mạng lưới liên minh trở nên kém hiệu quả, cả những người ủng hộ và đối thủ đều bắt đầu tính toán lại. Một lực lượng ủy nhiệm suy yếu có thể trở nên kém hữu ích hơn trong vai trò răn đe, tốn kém hơn để duy trì, hoặc, nếu công khai liên kết với nó, sẽ nguy hiểm hơn. Chỉ riêng điều này thôi cũng có thể dẫn đến một sự định hướng lại.

Các cường quốc bên ngoài nhận được ít sự tin tưởng hơn trước đây

Các liên minh ở Trung Đông cũng đang thay đổi khi các quốc gia trong khu vực kết luận rằng các cường quốc bảo vệ chính không còn đáng tin cậy như trước đây nữa. Carnegie lập luận rằng các cuộc chiến tranh gần đây đã phơi bày những hạn chế trong việc chấp nhận sự khủng hoảng của Mỹ và thúc đẩy các chính phủ Ả Rập xem xét nghiêm chỉnh hơn các khuôn khổ tự trị khu vực. CSIS và Carnegie cũng nhấn mạnh rằng vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc và Nga, cùng với sự thay đổi ưu tiên của Mỹ, tạo cho các quốc gia nhiều tự do hơn và nhiều lý do hơn để tìm kiếm sự bảo đảm khác thay thế, và họ sẽ không chỉ dựa vào một bên để bảo vệ.

Sự bảo đảm này không tự động có nghĩa là đoạn tuyệt với Mỹ hoặc chuyển hướng công khai sang một cường quốc đối thủ. Thường thì, nó có nghĩa là mở rộng các mối quan hệ. Các quan sát gần đây của CFR về hoạt động khu vực của Trung Quốc cho thấy các quốc gia vùng Vịnh và các bên khác đang mở rộng các mối quan hệ kinh tế, ngoại giao và, trong một số trường hợp, an ninh với Bắc Kinh, trong khi vẫn cam kết với Washington về các vấn đề quốc phòng cốt lõi. Điều này dẫn đến các mô hình lỏng lẻo và linh hoạt hơn so với Logic khối cũ mà nhiều người ngoài cuộc vẫn giả định.

Sự sống còn về kinh tế có thể quan trọng hơn những mối thù địch lâu đời.

Các cuộc xung đột ở Trung Đông không xảy ra một cách ngẫu nhiên. Các chính phủ cũng tìm cách bảo vệ các kế hoạch tăng trưởng, đầu tư nước ngoài, các tuyến đường thương mại và sự ổn định trong nước. Viện Chatham House lập luận vào tháng 3 năm 2025 rằng lập trường khu vực của Ả Rập Saudi ngày càng thể hiện mong muốn thiết lập trật tự thông qua sự ổn định và phát triển hơn là đối đầu triền miên. Viện Carnegie cũng đưa ra kết luận tương tự, cảnh báo rằng chiến tranh và bất ổn có thể làm gián đoạn các chương trình cải cách và buộc các quốc gia vùng Vịnh phải nhanh chóng cân bằng lại các ưu tiên.

Logic kinh tế này rất quan trọng bởi vì các quốc gia đang tìm cách xây dựng các ngành kỹ nghệ mới, thu hút vốn hoặc định vị mình là các trung tâm hậu cần và tài chính có động lực mạnh mẽ để không bị mắc kẹt trong các khối quân sự vĩnh viễn. Mặc dù họ có thể tiếp tục hợp tác quân sự, nhưng họ thường tìm kiếm các hình thức lỏng lẻo hơn, quan hệ đối tác có chọn lọc hoặc các thỏa thuận tạm thời với các đối thủ cũ nếu điều này làm giảm rủi ro cho chương trình nghị sự trong nước của họ.

Chiến tranh định hình lại các liên minh bởi vì chúng cho thấy ai có thể thực hiện được lời hứa.

Các liên minh quân sự thường có vẻ ổn định cho đến khi chiến tranh thử thách chúng. Một cuộc xung đột có thể cho thấy liệu một bên bảo vệ có thực sự ngăn chặn được các cuộc tấn công hay không, liệu một đối tác võ trang có còn giá trị hoạt động hay không ?, hoặc liệu một liên minh chính thức có gây ra nhiều rủi ro hơn là sự bảo vệ hay không ?. CFR lưu ý rằng các cuộc tấn công của Israel và cuộc đối đầu rộng hơn với Iran đã làm thay đổi bối cảnh an ninh của khu vực, trong khi các tuyên bố của ICRC từ năm 2025 và 2026 cảnh báo rằng các hoạt động quân sự leo thang có thể gây ra các phản ứng dây chuyền khu vực rộng lớn hơn.

Một khi điều này xảy ra, các liên minh có thể thay đổi nhanh chóng. Các quốc gia có thể xa lánh một phe dường như không thể bảo vệ được cho họ hoặc âm thầm tăng cường hợp tác với một đối thủ cũ nếu đối tác đó giờ đây có vẻ hữu ích hơn cho việc giảm leo thang. Nói cách khác, các cuộc xung đột không chỉ thử thách các liên minh. Chúng chủ động sắp xếp lại các liên minh bằng cách cho thấy ai nắm giữ đòn bẩy, ai gánh chịu gánh nặng và ai vẫn có thể ảnh hưởng đến chiến trường hoặc con đường ngoại giao.

Chính trị trong nước và các quyết định lãnh đạo vẫn rất quan trọng.

Ngay cả trong các cuộc xung đột quân sự đạt cao độ, sự thay đổi trong các liên minh không chỉ đơn thuần là về mặt cấu trúc. Những thay đổi trong lãnh đạo, sự bất mãn của công chúng, những lo ngại về sự tồn tại của chế độ và tính hợp pháp trong nước đều đóng vai trò quyết định mức độ chuyển biến của một quốc gia. Phân tích khu vực của Carnegie nhấn mạnh rằng các hệ thống chính trị trên khắp Trung Đông không chỉ phản ứng với các mối đe dọa từ bên ngoài mà còn với những căng thẳng nội bộ và các quan niệm cạnh tranh về lợi ích quốc gia.

Điều này giải thích tại sao các liên minh trong khu vực thường có vẻ mâu thuẫn từ bên ngoài. Một chính phủ có thể công khai lên án một bên, bí mật phối hợp với họ, và đồng thời duy trì việc liên lạc với đối thủ của mình. Điều này không phải lúc nào cũng là dấu hiệu của sự hỗn loạn. Trong nhiều cuộc xung đột ở Trung Đông, đó là cách các chính phủ hoạt động, tìm cách bảo toàn không gian hành động của mình trong một môi trường mà các cam kết cứng nhắc có thể trở thành rủi ro chỉ sau một đêm.

Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo

Nguyên nhân chính của sự thay đổi liên minh quân sự trong các cuộc xung đột ở Trung Đông không phải là tình bạn đột ngột hay sự phản bội. Đó là sự đánh giá lại. Các liên minh thay đổi khi các nhà lãnh đạo đánh giá lại các mối đe dọa, tính hữu ích của các lực lượng ủy nhiệm, độ tin cậy của các cường quốc bảo hộ, tính dễ bị tổn thương về kinh tế và rủi ro chính trị trong nước. Chừng nào khu vực này còn đặc trưng bởi các cuộc chiến tranh chồng chéo, các cơ chế an ninh tập thể yếu kém và sự cạnh tranh giữa các cường quốc, thì các mô hình liên minh có khả năng sẽ linh hoạt hơn là cố định.

Do đó, những thay đổi liên minh ở Trung Đông thường có vẻ đột ngột nhưng thường là kết quả của áp lực tích tụ trong một thời gian dài. Khi áp lực này đạt đến điểm bùng phát, các quốc gia sẽ nhanh chóng thay đổi đường lối. Mô hình cơ bản vẫn không thay đổi: khi bản đồ chiến lược thay đổi, các mối quan hệ đối tác được hình thành để tồn tại trên bản đồ đó cũng thay đổi theo.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 19-4-2026