Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

      HOẠT ĐỘNG VẬN CHUYỂN QUA EO BIỂN HORMUZ VẪN Ở MỨC THẤP

Sau khi thỏa thuận sơ bộ giữa Mỹ và Iran được ký kết, lưu lượng tàu thuyền qua eo biển Hormuz hiện vẫn ở mức thấp. Hiệp hội Chủ tàu Đức (VDR) cho biết, họ chưa thấy dấu hiệu gia tăng đáng kể về lưu lượng tàu thuyền vào thời điểm này; thông tin này được một người phát ngôn chia sẻ với Hãng thông tấn Đức (dpa). "Trong khi thường có hơn 100 lượt tàu qua lại mỗi ngày, các số liệu gần đây chủ yếu chỉ dao động từ mức một chữ số đến mức thấp của hai chữ số."

Trước đó cùng ngày, nhà cung cấp dữ liệu hàng hải Windward đã thông báo trên X rằng có7 tàu chở hàng đang di chuyển qua eo biển, cùng với các tàu khác đang đi từ Vịnh Ba Tư về phía tuyến đường này. Theo công ty Kpler, dữ liệu của họ ghi nhận bốn lượt tàu qua lại tính đến đầu giờ chiều thứ Năm 18-6.

Dữ liệu từ IMO, cơ quan chuyên trách của Liên Hợp Quốc về vận tải biển, tính đến hết ngày thứ Ba cho thấy có sự gia tăng về số lượt tàu qua lại, mặc dù xuất phát từ mức độ còn thấp. Dựa trên nhiều nguồn tin, IMO ước tính có 15 lượt tàu qua lại vào thứ Ba 16-6. Kpler ghi nhận 14 lượt tàu vào thứ Ba và 6 lượt vào thứ Tư 17-6.

Việc số lượng lượt tàu được ghi nhận không cao một phần là do không phải mọi hoạt động di chuyển đều được theo dõi đầy đủ. Ông Phillip Belcher thuộc Intertanko (Hiệp hội Quốc tế các Chủ tàu chở dầu độc lập) giải thích rằng, vì lý do an ninh, các tàu thường đi qua eo biển Hormuz, đặc biệt là vào ban đêm, dọc theo rìa phía bắc và phía nam của eo biển, tránh xa các tuyến đường hàng hải tiêu chuẩn vốn được ví như "đường cao tốc" trên biển. Hơn nữa, các tàu thường tắt hệ thống truyền dữ liệu vị trí của mình.

Thỏa thuận sơ bộ được ký kết giữa Mỹ và Iran quy định việc dỡ bỏ các lệnh phong tỏa lẫn nhau đối với hoạt động vận tải biển qua eo biển này. Tuy nhiên, các chi tiết cụ thể vẫn chưa rõ ràng. Hapag-Lloyd, công ty vận tải Container lớn nhất của Đức, chia sẻ với dpa: "4 tàu thuê của chúng tôi đang ở Vịnh Ba Tư và đang được chuẩn bị để đi qua eo biển Hormuz, tuy nhiên, chúng tôi sẽ chỉ thực hiện hành trình khi điều kiện đảm bảo an toàn." Công ty không đưa ra mốc thời gian cụ thể. Hapag-Lloyd dự định sẽ đánh giá cách thức triển khai thỏa thuận giữa Mỹ và Iran trước khi đưa ra quyết định.

Theo các chuyên gia, việc bình thường hóa hoạt động vận chuyển các sản phẩm năng lượng từ khu vực này có thể sẽ mất một khoảng thời gian ngay cả sau khi eo biển mở cửa trở lại, do các cơ sở sản xuất đã bị hư hại. Hơn nữa, các công ty bảo hiểm cũng sẽ cần phải thích ứng với tình hình mới.

Ngay khi xung đột với Israel và Mỹ nổ ra, Iran đã khiến eo biển này trở nên bất khả thi đối với hoạt động vận tải biển quốc tế thông qua các cuộc tấn công và đe dọa. Sau đó, Mỹ đã đáp trả bằng cách áp đặt lệnh phong tỏa hải quân đối với các tàu thuyền có ý định cập cảng hoặc rời khỏi các cảng của Iran. Trung Quốc được xem là khách hàng mua dầu chính của Iran. Việc dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ có thể giúp Iran nhanh chóng khôi phục một nguồn thu nhập thiết yếu.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

 ÂU CHÂU KHÔNG CẦN THÊM CÁC NHÀ MÁY SẢN XUẤT VŨ KHÍ - CÁC NHÀ MÁY SẢN XUẤT Ô TÔ SẼ ĐÁP ỨNG NHU CẦU QUỐC PHÒNG

Ngành kỹ nghệ sản xuất ô tô Âu châu có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất quốc phòng. Các nhà máy sản xuất ô tô châu Âu đang đối mặt với một trong những cuộc tái cơ cấu lớn nhất trong lịch sử. Quá trình chuyển đổi sang xe điện, áp lực từ các đối thủ cạnh tranh Trung Quốc, chi phí năng lượng cao và tốc độ tăng trưởng nhu cầu chậm lại đã khiến phần lớn năng lực sản xuất của ngành này bị bỏ phí hoặc chưa được khai thác hết.

Đồng thời, các quốc gia Âu châu đang gia tăng đáng kể ngân sách quốc phòng. Điều này đặt ra câu hỏi liệu một phần của ngành kỹ nghệ sản xuất ô tô có thể tìm thấy những cơ hội kinh doanh mới trong lĩnh vực quốc phòng hay không?.

Trong những tháng gần đây, giới kỹ nghệ và chính trị đã thảo luận ngày càng nhiều về việc làm thế nào để xác nhà máy sản xuất ô tô của Âu châu có thể hỗ trợ quá trình tăng cường năng lực quốc phòng.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

BƯỚC NGOẶT TẠI VÙNG VỊNH: CÁC TÀU CHỞ DẦU "SHADEN" VÀ "JAHAM" CỦA Ả RẬP SAUDI XUẤT HIỆN GẦN HORMUZ

Nguồn tin từ FOCUS Online cho biết: 4 siêu tàu chở dầu, với tổng khối lượng vận chuyển khoảng 8 triệu thùng dầu (một thùng tương đương 159 lít), được cho là đã đi qua hoặc đang trong quá trình di chuyển qua eo biển Hormuz. Trong số đó có những tàu chở dầu đầu tiên thuộc sở hữu của Ả Rập Saudi đã đi qua eo biển này thành công kể từ khi xung đột nổ ra.

Những điều cần biết:

Một thỏa thuận giữa Mỹ và Iran đang thắp lên hy vọng trong nền kinh tế thế giới về việc mở lại eo biển Hormuz. Phần lớn lượng dầu và khí đốt xuất khẩu thế giới thường đi qua tuyến đường thủy này. Trong những tuần gần đây, các tàu đã nhiều lần di chuyển thành công qua đây.

Giờ đây, các tàu của Ả Rập Xê Út cũng đã đi qua tuyến đường này thành công. Điều này có thể báo hiệu một sự thay đổi căn bản. Các đơn vị vận hành vẫn còn rất thận trọng đưa tàu của mình đi qua eo biển Hormuz

Theo Bloomberg, các tàu được đề cập bao gồm tàu ​​chở dầu "Shaden" và "Jaham". Trang web theo dõi tàu thuyền MarineTraffic cho thấy cả 2 tàu đều đang ở Vịnh Oman, phía đông eo biển Hormuz , vào chiều thứ năm, ngày 18 tháng 6.

Chúng thuộc sở hữu của công ty vận tải biển Bahri của Ả Rập Saudi. Dường như các tàu này đã hoàn tất hành trình khi tắt hệ thống định vị và chỉ mở lại sau đó. Theo Bloomberg, trước đó Bahri đã áp dụng cách di chuyển qua eo biển Hormuz một cách thận trọng thận trọng.

Số lượng tàu di chuyển ra khỏi eo biển đang gia tăng. Ngoài 2 tàu chở dầu kể trên, một tàu chở khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) do Oman điều hành cũng được cho là đã đi qua eo biển Hormuz. Hơn nữa, vào sáng thứ Năm, một tàu chở LNG khác, vốn được theo dõi ở bên ngoài Vịnh Ba Tư trước đó, đã xuất hiện tại một bến cảng ở Qatar. Ít nhất 5 tàu ​​có liên hệ với Iran cũng được cho là đã đi vào tuyến đường thủy này. Mỹ và Iran có thời hạn đồng thuận cho việc này trong vòng 60 ngày

Việc ba siêu tàu chở dầu của Ả Rápaudi, vốn bị mắc kẹt tại Vịnh Ba Tư trong nhiều tuần, di chuyển qua eo biển có thể đã báo hiệu được sự thay đổi tiềm năng trong hoạt động vận tải biển. Hy vọng đang gia tăng rằng tình hình xung quanh tuyến đường thủy huyết mạch này sẽ dịu lại. Cả Mỹ và Iran đều đã ký một biên bản ghi nhớ nhằm mở đường cho các cuộc đàm phán tiếp theo và nếu thành công ,sẽ chấm dứt các hành động thù địch tại khu vực này.

Lưu ý quan trọng: Mỹ và Iran chỉ mới đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời mang tính sơ kết. Mặc dù cả hai bên đều cam kết mở lại hoàn toàn tuyến đường thủy này mà không phát sinh thêm chi phí, Teheran vẫn nhiều lần tuyên bố ý định duy trì một mức độ kiểm soát nhất định đối với tuyến đường này. Hai nước hiện có 60 ngày để hoàn tất đàm phán.

Những thách thức trong việc mở lại eo biển Hormuz

Tuy nhiên, tình hình tại eo biển Hormuz sẽ không thể trở lại bình thường trong một sớm một chiều. Cần có thời gian để khôi phục khả năng vận hành của các con tàu sau thời gian dài nằm chờ; các vấn đề về bảo hiểm cần được giải quyết; thủy lôi cần được rà phá; và hoạt động giao thông khi được nối lại cũng cần được điều phối nhịp nhàng. Một số chuyên gia đã cảnh báo về nguy cơ va chạm nếu có quá nhiều tàu cùng lúc cố gắng đi qua eo biển này.

Lòng đường thủy giao lưu thực tế, chỉ có thể lưu thông tại eo biển Hormuz chỉ rộng vài hải lý. Tùy thuộc vào mức độ cản trở của thủy lôi đối với tuyến đường, tình trạng tắc nghẽn vẫn có thể xảy ra ngay cả khi eo biển đã được mở lại.

Đồng thời, vẫn có những thuyền trưởng nắm rõ các tuyến đường có thể lưu thông; trong vài tuần qua, nhiều tàu thuyền đã liên tục vượt qua được eo biển đang bị phong tỏa, đôi khi có sự tham gia hỗ trợ từ phía Mỹ.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026  

 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH Ở VỊNH BA TƯ VỀ CÁC TÀU CHỞ DẦU BỊ GIỮ SAU KHI KÝ THỎA THUẬN SƠ BỘ ĐÃ ĐƯỢC KÝ KẾT

Nguồn tin từ RND cho biết: Eo biển Hormuz nằm ở trung tâm cuộc xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran. Cả Iran và Mỹ đều đã áp đặt lệnh phong tỏa đối với tuyến đường hàng hải duy nhất nối liền Vịnh Ba Tư và Biển Ả Rập.

Sau nhiều tuần đàm phán, Mỹ và Iran đã đạt được một thỏa thuận sơ bộ nhằm giải quyết cuộc chiến. Eo biển này, vốn có vai trò huyết mạch đối với hoạt động thương mại dầu khí thế giói, dự kiến ​​sẽ mở cửa trở lại cho tàu thuyền qua lại.

Ngay sau thỏa thuận được ký kết, hoạt động xuất cảng dầu thô bằng đường biển của Iran đã được nối lại. Theo dữ liệu từ tổ chức môi trường Greenpeace, hiện vẫn còn khoảng 50 tàu chở dầu đầy tải đang bị mắc kẹt tại đây, với tổng khối lượng ước tính khoảng 10 triệu tấn dầu.

Trước khi Mỹ và Israel tiến hành các cuộc tấn công vào Iran hồi cuối tháng 2, có khoảng 3.000 tàu thuyền qua lại eo biển này mỗi tháng, theo số liệu từ các chuyên gia phân tích tại Lloyd’s List Intelligence. Với việc phát động Chiến dịch "Epic Fury" vào ngày 28 tháng 2 năm 2026, hoạt động vận tải biển tại eo biển Hormuz gần như bị đình trệ hoàn toàn. Một trong những tuyến đường thương mại quan trọng nhất thế giới, nơi từng đảm nhận việc vận chuyển khoảng 20% ​​lượng dầu và khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu , đã bị tê liệt trong nhiều tháng.

Iran đã liên tục tấn công các tàu thuyền và ám chỉ việc rải thủy lôi tại eo biển Hormuz. Một lệnh ngừng bắn giữa Mỹ và Iran đã chính thức có hiệu lực từ ngày 8 tháng 4. Tuy nhiên, vào giữa tháng 4, Mỹ bắt đầu phong tỏa các cảng của Iran nằm trong khu vực eo biển này nhằm làm suy yếu nền kinh tế Iran và buộc chế độ giáo sĩ tại đây phải ngồi vào bàn đàm phán.

Hệ quả của cuộc chiến với Iran là giá dầu thô đã có lúc tăng vọt lên gần 120 USD/thùng. Mặc dù có các tuyến đường vận chuyển thay thế, chẳng hạn như đường ống Đông-Tây của Ả Rập Saudi, nhưng công suất của chúng chỉ đáp ứng được một phần nhỏ so với khối lượng hàng hóa thường được vận chuyển hàng ngày qua eo biển Hormuz. Bên cạnh những tác động về kinh tế, Greenpeace cũng cảnh báo về những rủi ro môi trường nghiêm trọng tại khu vực xung quanh eo biển Hormuz. Các vụ tấn công tàu thuyền ở Vịnh Ba Tư đã cho thấy xung đột có thể nhanh chóng leo thang thành một thảm họa sinh thái như thế nào?.

Eo biển Hormuz cùng các vùng biển lân cận thuộc Vịnh Ba Tư và Vịnh Oman là nơi trú ngụ của những hệ sinh thái mong manh, bao gồm các rạn san hô và rừng ngập mặn. Hơn nữa, khu vực này còn có nhiều nhà máy khử mặn nước biển. Một vụ tràn dầu nghiêm trọng sẽ đe dọa cả hệ động vật hoang dã tại địa phương lẫn nguồn cung cấp nước cho người dân.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026 

WASHINGTON GIA TĂNG ÁP LỰC LÊN CÁC ĐỒNG MINH NATO VỀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA QUÂN ĐỘI 

Nguồn tin từ AFP: Ngoài việc cắt giảm lực lượng đã được công bố trước đó, các quốc gia Âu châu có thể đối mặt với việc bị rút thêm quân: Trong cuộc họp với những Bộ trưởng BQP của NATO tại Brüssels vào thứ Năm 18-6, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã thông báo về một đợt đánh giá, kéo dài tới 6 tháng, đối với "sự hiện diện và các căn cứ của quân đội Mỹ tại Âu châu ", qua đó gia tăng áp lực lên các đồng minh. Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius (thuộc đảng SPD) kêu gọi các đồng minh Âu châu cần "thêm chút thời gian" để thực hiện quá trình chuyển đổi một cách trật tự, trong bối cảnh Mỹ cắt giảm các đóng góp của mình cho NATO.

Ông Hegseth tuyên bố rằng việc đánh giá sự hiện diện của quân đội Mỹ nhằm bảo đảm "NATO nhanh chóng và không thể đảo ngược tiến tới một liên minh do Âu châu dẫn dắt, trong đó Âu châu gánh vác trách nhiệm chính đối với việc phòng thủ." Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng nhấn mạnh rằng đợt đánh giá này nhằm bảo đảm NATO "cam kết rằng các quyền xử dụng căn cứ và bay qua không phận của chúng ta được xác định rõ ràng và được bảo đảm."

Trong nhiều năm qua, Mỹ đã lên kế hoạch giảm bớt sự hiện diện tại Âu châu để tập trung nhiều hơn vào khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Những tháng gần đây đã xuất hiện nhiều tuyên bố, đôi khi mâu thuẫn nhau, liên quan đến việc Mỹ sẽ rút quân khỏi NATO.

Vào tháng 10, Mỹ xác nhận việc rút hàng nghìn binh sĩ khỏi Đông Âu, đặc biệt là từ Rumänien. Vào tháng 5 năm nay, Pentagon đã công bố kế hoạch rút 5.000 binh sĩ khỏi Đức. Sau đó, ông Trump tuyên bố ý định điều động thêm 5.000 binh sĩ tới Ba Lan, sau khi tạm dừng một kế hoạch trước đó về việc tái triển khai 4.000 binh sĩ Mỹ tại quốc gia này.

Thông báo về việc rút quân khỏi Đức được đưa ra sau những chỉ trích từ Thủ tướng Friedrich Merz (thuộc đảng CDU) liên quan đến cuộc chiến với Iran. Các đồng minh NATO khác cũng hứng chịu sự giận dữ của ông Trump trong bối cảnh này. Tổng thống Mỹ đã chỉ trích Pháp vì từ chối cấp quyền xử dụng không phận cho Mỹ. Ông Trump cũng đe dọa sẽ rút quân đội Mỹ khỏi Tây Ban Nha và Ý. Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez, cùng những hành động khác, đã cấm quân đội Mỹ xử dụng các căn cứ tại Tây Ban Nha để thực hiện các cuộc tấn công nhắm vào Iran.

Vào thứ Năm 18-6, ông Hegseth đã mô tả hành động này là "đáng xấu hổ". Ông tuyên bố rằng các đồng minh đã đặt "những người con trai và con gái" của nước Mỹ vào tình thế nguy hiểm. "Không có lý do gì để biện minh cho điều đó." Tuy nhiên, Tổng thư ký NATO Mark Rutte không coi thông báo của ông Hegseth là một hình phạt đối với lập trường của các đồng minh về khả năng xảy ra chiến tranh với Iran. Ông Rutte cho biết mình "chưa nghe thấy điều gì như vậy" sau cuộc họp mà ông Hegseth đã rời đi sau khoảng hai giờ.

Bộ trưởng Quốc phòng Đức Pistorius nhấn mạnh rằng không có "thông báo cụ thể nào" từ phía Mỹ trong cuộc họp liên quan đến việc rút quân hoặc nhân sự khỏi Đức hay Âu châu. Thay vào đó, trọng tâm thảo luận là về một lộ trình thực hiện. "Vấn đề cốt lõi là cách liên hệ có sự phối hợp," vị Bộ trưởng nhấn mạnh. Ông lưu ý rằng thách thức lớn nhất là phải "tránh tạo ra những lỗ hổng năng lực nguy hiểm."

Ông Pistorius cảnh báo về việc vội vàng chuyển đổi sang một NATO mang đậm dấu ấn Âu châu hơn. Ông giải thích rằng sẽ rất "khó khăn và nguy hiểm cho an ninh khu vực NATO tại Âu châu nếu các năng lực quân sự bị rút đi quá nhanh mà không có sự rõ ràng về thời điểm có thể thay thế chúng." Ông Pistorius lập luận rằng, mặc dù nhiều năng lực có thể được thay thế "rất nhanh chóng", hoặc giảm thiểu tác động khi thiếu vắng, nhưng cũng có những năng lực không thể làm được như vậy.

Ví dụ, đối với các loại vũ khí tầm xa có độ chính xác cao, cần phải có "giải pháp chuyển tiếp hoặc đơn giản là cần thêm thời gian" trước khi chúng có thể được rút đi. "Đó là vấn đề chúng tôi sẽ phải đàm phán với các đối tác Mỹ." Với những thông báo được đưa ra chỉ khoảng 3 tuần trước hội nghị thượng đỉnh NATO tại Ankara, Mỹ đã gia tăng áp lực lên các đồng minh. Washington muốn đảm bảo rằng các đối tác sẽ thực hiện cam kết tăng mạnh chi tiêu quốc phòng, vốn đã được thống nhất tại hội nghị thượng đỉnh NATO năm ngoái ở The Hague.

Tại Brüssels, ông Hegseth đe dọa sẽ cắt giảm phần đóng góp của Mỹ vào ngân sách NATO nếu không phải tất cả các đồng minh đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Ngân sách NATO năm nay ở mức 5,3 tỷ Euro, do các quốc gia thành viên đóng góp theo những tỷ lệ khác nhau; Mỹ, cũng như Đức, chi trả khoảng 15% tổng số tiền này.

Vào cuối tháng 5, Bộ Quốc phòng Mỹ đã thông báo cho các đồng minh về mức độ cắt giảm đóng góp của Washington đối với cái gọi là Mô hình Lực lượng NATO. Washington cũng đã dừng kế hoạch khai triển hỏa tiễn  hành trình tầm xa tới Đức.

Mô hình lực lượng này cung cấp khuôn khổ tổng thể về cách thức quân đội quốc gia được huy động cho liên minh. Thông tin chi tiết về các khoản đóng góp cụ thể được xếp vào diện tối mật. Tuy nhiên, theo các báo cáo truyền thông, Mỹ dự định sẽ giảm đáng kể số lượng oanh tạc cơ chiến lược và các chiến đấu cơ trong tương lai, bên cạnh các đợt cắt giảm khác; một hàng khôg mẫu hạm của Mỹ cũng nằm trong kế hoạch rút khỏi hệ thống này.

Tổng thư ký NATO Rutte cho biết đã có "sự đồng thuận rộng rãi" giữa các đồng minh của Washington về việc họ cần gánh vác trách nhiệm lớn hơn. Ông Rutte nhấn mạnh rằng một số lực lượng mà Mỹ đang rút bớt vốn đã "có đầy đủ nhân sự, trong khi một số khác đã gần đủ quân số", đồng thời lưu ý rằng "vẫn còn những phần việc cần tiếp tục khai triển".

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

 VIỆC ANH QUỐC QUAY TRỞ LẠI VỚI EU CÓ THỂ LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI

Bài viết của Torsten Riecke trên Handelsblatt: "Có những thập niên mà chẳng có gì xảy ra; và có những tuần lễ mà mọi việc diễn ra dồn dập như cả thập niên gộp lại." Ngay cả câu nói nổi tiếng của Lenin, xuất phát từ thời kỳ đầy biến động của Cách mạng Nga, giờ đây cũng không còn lột tả hết được những thay đổi chóng mặt của thời đại chúng ta. Thường thì chỉ cần vài ngày là đủ để tạo nên một bước ngoặt trong lịch sử thế giới. Ngày 23 tháng 6 năm 2016 chính là một ngày định mệnh như vậy.

Vào ngày thứ Năm đó, một bộ phận đa số sít sao tại Vương quốc Anh đã quyết định rời khỏi Liên minh Ău Châu (EU). Brexit đã châm ngòi cho một làn sóng chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa dân tộc trên toàn thế giới, mà cơn địa chấn đó vẫn còn hiện hữu cho đến ngày nay.

Đồng thời, cột mốc kỷ niệm lịch sử này cũng mang đến những dấu hiệu nghiêm chỉnh đầu tiên cho thấy người Anh có thể sẽ đảo ngược quyết định của mình. Một động thái như vậy cũng sẽ đóng vai trò như một rào cản đối với đà trỗi dậy thế giới của các thế lực dân túy cánh hữu và các nhà lãnh đạo độc đoán.

Nhiều người cho rằng tâm chấn chính trị của cuộc biến động dân túy toàn cầu này nằm ở Mỹ, bắt đầu từ sự kiện Donald Trump đắc cử Tổng thống Mỹ vào ngày 8 tháng 11 năm 2016.

Tuy nhiên, trên thực tế, chính cuộc trưng cầu dân ý về tư cách thành viên EU của Anh, diễn ra trước đó 4 tháng, mới là nơi chứng kiến ​​sự bùng phát đầu tiên của nỗi phẫn nộ dồn nén trong đông đảo người dân đối với giới tinh hoa cầm quyền và các chính sách suốt 70 năm qua. Không phải ngẫu nhiên mà ông Trump đã tự ví mình là "Ông Brexit" trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2016.

Có vẻ như là một sự trớ trêu của lịch sử khi người Anh, đúng vào thời điểm kỷ niệm mười năm Brexit, lại đang nghiêm chỉnh được thảo luận về việc quay trở lại EU. Liệu quốc gia đảo quốc vốn đề cao "lẽ thường" này có cuối cùng cũng tỉnh ngộ sau một thập niên đi chệch hướng, đầy rẫy hỗn loạn, mất mát về sự thịnh vượng và những nỗi đắng cay?

Thoạt nhìn, tình hình không diễn ra theo hướng đó. Ngược lại là đằng khác. Thủ tướng Anh Keir Starmer coi như đã hết thời về mặt chính trị chỉ sau 2 năm cầm quyền, bởi ông không thể đưa Vương quốc Anh, vốn đang bị kìm hãm bởi tình trạng tăng trưởng trì trệ kinh niên, thoát khỏi cuộc khủng hoảng triền miên.

Người nhiều khả năng sẽ kế nhiệm ông là Andy Burnham, một thành viên cùng đảng Lao động và cũng là Thị trưởng Manchester; ông sẽ trở thành thủ tướng thứ 7 trong vòng 10 năm trở lại đây. Đang chờ thời ở hậu trường là Nigel Farage, một nhân vật dân túy cánh hữu và là người tiên phong ủng hộ Brexit; đảng Reform UK của ông đã dẫn đầu các cuộc thăm dò dư luận tại Vương quốc Anh trong nhiều tháng qua. 

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lãnh đạo hiện nay tại London có thể mang lại cơ hội giải tỏa những bế tắc của vấn đề Brexit,  tình trạng mà đất nước đã mắc kẹt suốt một thập niên qua. "Tôi mong muốn chúng ta sẽ tái gia nhập [EU] trong cuộc đời mình. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta nên tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý khác ngay lúc này," ông Burnham, một đối thủ cạnh tranh với ông Starmer, nhận định.

Dư luận đã đi trước cả những người có tham vọng trở thành thủ tướng: theo một cuộc thăm dò mới của Ipsos, 58% cử tri Anh sẽ bỏ phiếu ủng hộ việc tái gia nhập EU nếu có một cuộc trưng cầu dân ý mới.

Một nửa số người được hỏi ủng hộ việc tổ chức bỏ phiếu toàn dân sau cuộc tổng tuyển cử tiếp theo vào năm 2029, một cuộc đua có thể biến thành màn đối đầu trực diện giữa phe ủng hộ EU ở cánh tả và phe hoài nghi châu Âu (những người ủng hộ Brexit) ở cánh hữu trên bản đồ chính trị.

"Tất nhiên chúng ta sẽ tái gia nhập Liên minh Âu Châu , bởi điều đó rõ ràng mang lại lợi ích kinh tế quốc gia," ông Spencer Livermore, một bộ trưởng thuộc chính phủ Công đảng tại Thượng viện, gần đây đã dự đoán như vậy; ông cũng lưu ý rằng Brexit có thể đã khiến sản lượng kinh tế của Anh sụt giảm tới 8%.

Ông Wes Streeting, người từng từ chức Bộ trưởng Y tế một phần vì phản đối lập trường do dự của ông Starmer đối với vấn đề Âu châu, gọi Brexit là một "sai lầm thảm khốc", một sai lầm mà ông sẽ khắc phục nếu trở thành thủ tướng.

Đây là những quan điểm mới mẻ và thẳng thắn một cách khác thường. Trong một thời gian dài, việc khơi lại những vết thương cũ liên quan đến Brexit là điều cấm kỵ trong giới chính trị London. Ký ức về chiến dịch vận động đầy gay gắt, sự kiện suýt chút nữa đã làm tan rã Vương quốc Anh, vẫn còn quá đau đớn và ám ảnh. Ngay cả ông Farage, người từng là lá cờ đầu của phong trào Brexit, cũng tránh né chủ đề này.

Mặc dù chính quyền các vùng Bắc Ireland, xứ Wales và Scotland đều do các đảng ủng hộ việc tái gia nhập EU lãnh đạo, nhưng liệu đa số cử tri có thực sự bỏ phiếu quay lại trong một cuộc trưng cầu dân ý mới hay không lại phụ thuộc chủ yếu vào cách các đối tác Âu châu đón nhận nước Anh: liệu họ sẽ dang rộng vòng tay chào đón hay dựng lên những rào cản lớn. Vấn đề không chỉ nằm ở những khoản tiền khổng lồ mà còn là lòng tự tôn dân tộc.

Đối với nhiều người dân Anh, châu Âu vẫn là một vấn đề gây tranh cãi và chia rẽ sâu sắc dư luận. "Cho đến tận ngày nay, nhiều người Anh vẫn định hình bản sắc chính trị của mình trước hết là thuộc phe 'Ở lại' (Remainers) hay phe ủng hộ 'Rời đi' (Vote Leave)," bà Sara Hobolt, một nhà khoa học chính trị tại Trường Kinh tế London (LSE), cho biết. Bà mô tả những chia rẽ sâu sắc trong Vương quốc Anh trong cuốn sách mới xuất bản gần đây của mình, *Tribal Politics: How Brexit Divided Britain* (tạm dịch: Chính trị Bộ lạc: Brexit đã chia rẽ nước Anh như thế nào).

Việc Vương quốc Anh quay trở lại EU sẽ không chỉ là thành tựu địa chính trị lớn nhất của Âu châu kể từ cuộc bỏ phiếu định mệnh quyết định rời khỏi khối này một thập niên trước. "Lục địa già", nơi vốn đã bị Mỹ và Trung Quốc gạt sang bên lề, sẽ tuyên bố sự trở lại của mình trên vũ đài quốc tế bằng một thông điệp đầy mạnh mẽ.

Quan trọng hơn cả, điều này sẽ gửi đi một tín hiệu toàn thế giới nhằm chống lại bóng ma của chủ nghĩa dân túy dân tộc mà Brexit từng khơi dậy. Những nhà lãnh đạo theo xu hướng độc đoán như Trump, Tổng thống Nga Vladimir Putin và nhà lãnh đạo quyền lực của Trung Quốc - ông Tập Cận Bình, sẽ không còn có thể chắc chắn rằng chính sách quyền lực "chia để trị" của họ sẽ phát huy tác dụng.

Tuy nhiên, thời điểm đó vẫn chưa đến. "Cuộc đời sẽ trừng phạt những kẻ đến quá muộn," cựu Tổng thống Nga Mikhail Gorbachew từng nói như vậy ngay trước khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989. Song, những người đến quá sớm cũng chẳng thể tránh khỏi tổn thương. "Sẽ cần cả một thế hệ để hàn gắn những vết thương do Brexit gây ra," Michael Heseltine, chính trị gia thuộc Đảng Bảo thủ, nay đã 93 tuổi, từng dự báo trong một cuộc phỏng vấn với tờ *Handelsblatt* cách đây 3 năm. Và điều này đúng với cả hai bờ eo biển Manche. Khác với cuộc chạy nước rút Brexit năm 2016, hành trình quay trở lại sẽ là một cuộc chạy Marathon đầy chông gai.

"Vào dịp kỷ niệm 10 năm Brexit, người Anh bắt đầu thảo luận về việc tái gia nhập cái mà họ gọi là ' Âu châu'," nhà sử học Timothy Garton Ash tại Oxford viết. Tuy nhiên, cũng như hầu hết các cuộc tranh luận của người Anh về " Âu châu " từ trước đến nay, chính Âu châu lại bị gạt ra ngoài lề cuộc đối thoại.

"Cuộc thảo luận hoàn toàn xoay quanh việc điều gì là tốt nhất cho nước Anh về mặt kinh tế và các chiến lược chính trị của Anh để đạt được mục tiêu đó," Garton Ash cảnh báo; "những suy nghĩ hay mối quan tâm của phần còn lại Âu châu hầu như không được tính đến, hoặc nếu có thì cũng rất mờ nhạt."

Nhiều người vẫn coi việc Anh rời khỏi EU là một sự ngẫu nhiên của lịch sử. Ngay cả Boris Johnson và Nigel Farage, những người đi đầu trong chiến dịch "Rời khỏi" (Leave), cũng không tin rằng họ có thể giành chiến thắng vào ngày trước khi cuộc bỏ phiếu diễn ra. Kết quả cuối cùng sít sao đến khó tin, với tỷ lệ 52% ủng hộ rời đi và 48% muốn ở lại.

Các chuyên gia thăm dò dư luận cho rằng chiến thắng của phe ủng hộ rời EU chủ yếu bắt nguồn từ việc nhiều người Anh lớn tuổi đã bỏ phiếu ủng hộ Brexit, trong khi nhiều người trẻ tuổi lại không đi bỏ phiếu. "Việc đa số người dân hiện nay muốn quay lại EU cũng là do yếu tố nhân khẩu học," Anand Menon, giám đốc tổ chức tư vấn "UK in a Changing Europe" (Vương quốc Anh trong một Âu châu đang thay đổi), nhận định. "Nhiều cử tri lớn tuổi từng ủng hộ Brexit đã qua đời, trong khi nhiều người Anh trẻ tuổi lại có quan điểm ủng hộ Âu châu."

Tuy nhiên, những người ủng hộ giả thuyết cho rằng Brexit chỉ là một "tai nạn", cũng như những ai kỳ vọng vào sự thay đổi về cơ cấu dân số, lại không nhận ra rằng các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến cuộc bỏ phiếu Brexit năm 2016 vẫn chưa được giải quyết cho đến tận ngày nay.

Ngược lại: phần lớn những vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách Đức đang phải chật vật giải quyết hiện nay đã bắt đầu bộc lộ rõ ​​nét trong suốt bốn tháng diễn ra chiến dịch Brexit cách đây một thập niên, và tiếp tục định hình bầu không khí chính trị đầy căng thẳng tại nhiều quốc gia công nghiệp Tây phương .

Đó là sự phẫn nộ của những người bị lãng quên về mặt chính trị và bị bỏ lại phía sau về mặt kinh tế đối với toàn cầu hóa cùng giới tinh hoa lãnh đạo tiến trình này. Đó là thái độ hoài nghi về tính xác thực của các sự kiện và sự trung thực của giới chuyên gia. Nhưng cũng còn đó nỗi lo sợ về làn sóng nhập cư ồ ạt; chủ nghĩa dân tộc đề cao lợi ích quốc gia ("ưu tiên nước mình") được thổi bùng bởi cảm giác bị choáng ngợp về văn hóa, nỗi sợ đánh mất bản sắc, lòng tự tôn bị tổn thương và tâm lý bài ngoại gay gắt; cùng với việc xử dụng tràn lan các chương trình tự động (bot) trên mạng xã hội để khơi dậy hoặc khuếch đại dư luận.

Tất cả những điều này đã bùng phát lần đầu tiên trong cuộc bỏ phiếu Brexit tại Anh và sau đó trở thành đặc điểm nổi bật của thời đại chúng ta. Chiến dịch "Vote Leave" (Bỏ phiếu rời đi) đóng vai trò như một kênh thể hiện sự phản kháng của số đông đối với hiện trạng chính trị, một hiện trạng mà nhiều công dân đã nổi dậy chống lại vì họ cảm thấy mình đang mất quyền kiểm soát cuộc sống của chính mình. "Giành lại quyền kiểm soát" là lời hứa của những người vận động Brexit vào năm 2016, một lời hứa đến nay vẫn chưa thành hiện thực , và sau đó được các chính trị gia trên khắp các khuynh hướng chính trị tiếp nhận, từ Donald Trump ở Mỹ và Keir Starmer ở ​​Anh cho đến lãnh đạo đảng AfD là Alice Weidel ở Đức.

Tuy nhiên, đồng thời, Brexit cũng đóng vai trò là phép thử thực tế đầu tiên đối với những người theo chủ nghĩa dân túy như Trump và Farage; họ hứa hẹn với những người ủng hộ rằng chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa biệt lập có thể giúp giành lại quyền kiểm soát vận mệnh trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Thực tế sau mười năm kể từ cuộc trưng cầu dân ý cho thấy điều hoàn toàn ngược lại đã xảy ra.

Không chỉ Vương quốc Anh phải gánh chịu những tổn thất to lớn về sự thịnh vượng kể từ khi rời khỏi EU; Các nhà kinh tế tại Đại học Stanford – một trường đại học danh tiếng của Mỹ, ước tính rằng GDP của Anh sẽ cao hơn từ "6 đến 8%" nếu Vương quốc Anh vẫn ở lại EU. Theo các báo cáo, Brexit đã khiến đầu tư sụt giảm tới 18%, trong khi việc làm và năng suất lao động đều giảm 4%.

Kết quả cũng tiêu cực không kém đối với mục tiêu chính của những người ủng hộ Brexit: chấm dứt tình trạng nhập cư không kiểm soát. Jonathan Portes, giáo sư kinh tế tại King’s College London, nhận định: "Việc rời khỏi EU đã trao lại cho Anh quyền kiểm soát vấn đề nhập cư, nhưng cử tri lại không hài lòng với kết quả này."

Brexit đã làm giảm đáng kể số lượng lao động từ EU làm việc tại Anh, đồng thời gia tăng mạnh mẽ số lượng lao động đến từ các quốc gia ngoài khối EU. Xét về tổng thể, số lượng lao động sinh ra ở nước ngoài đang sinh sống tại Anh hiện nay cao hơn so với mức lẽ ra đã có nếu Anh vẫn ở lại EU.

Hơn nữa, Brexit đã gây ra vô vàn khó khăn trong việc đưa những người di cư vượt eo biển Manche bất hợp pháp trở lại EU.

Tuy nhiên, không đâu mà khẩu hiệu "Giành lại quyền kiểm soát" lại trở nên nực cười hơn là trong lĩnh vực chính sách đối ngoại và an ninh. Lời hứa của Boris Johnson về một nước Anh "vươn tầm toàn cầu" (Global Britain) đã bị đảo ngược hoàn toàn và trớ trêu thay, điều này lại do chính các lực lượng theo chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy từ Brexit gây ra.

Nhà sử học Garton Ash viết: "Nếu nhìn vào viễn cảnh thế giới trong hai thập niên tới, một thế giới với sự cạnh tranh giữa các cường quốc và đế chế, với một nước Nga hiếu chiến về quân sự, một Trung Quốc quyết liệt về kinh tế, và một nước Mỹ sẽ không bao giờ quay lại vai trò gắn kết xuyên Đại Tây Dương đặc biệt như thời hậu chiến năm 1945, thì rõ ràng lựa chọn tốt nhất cho một cường quốc tầm trung như Anh là trở thành một phần của liên minh rộng lớn hơn, bao gồm các quốc gia có chung lợi ích và giá trị cốt lõi."

Việc đưa Anh trở lại khối cũng mang lại lợi ích lâu dài cho EU, xét đến truyền thống tự do, năng lực đổi mới sáng tạo và sức mạnh quân sự của quốc gia này.

Quan điểm của Napoleon cho rằng địa lý quyết định vận mệnh quốc gia là một trong số ít những nguyên lý địa chính trị vẫn giữ nguyên giá trị. Brexit là một nỗ lực nhằm thay đổi thực tế này, nhưng đã thất bại thảm hại. Giờ đây, trọng trách sửa chữa sai lầm lịch sử này đặt lên vai người dân Anh và các nước láng giềng Âu châu.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026 

 DONALD TRUMP: "ÔNG LÃO LẠI GẶP RẮC RỐI RỒI" - TỔNG THỐNG MỸ LAY HOAY VỤNG VỀ NGAY TRƯỚC MẮT MỌI NGƯỜI  

Nhiệm vụ của Tổng thống Mỹ không chỉ bao gồm các quyết định về chính sách đối nội và hoạt động ngoại giao thế giới, mà còn cả các trách nhiệm mang tính nghi thức nhằm vinh danh những công dân Mỹ ưu tú. Chẳng hạn, Huân chương Danh dự (Medal of Honor), phần thưởng quân sự cao quý nhất của chính phủ Mỹ,  thường được đích thân Tổng thống trao tặng cho những cá nhân đã thể hiện lòng dũng cảm phi thường trong quân đội và bất chấp hiểm nguy tính mạng khi tham chiến. Tuy nhiên, Donald Trump đã làm hỏng khoảnh khắc đặc biệt này tại White House khi thất bại trong một thao tác đơn giản ngay trước sự chứng kiến ​​của mọi người, qua đó tạo thêm cớ để những người chỉ trích đặt dấu hỏi về sự phù hợp của ông cho cương vị Tổng thống.

Donald Trump trở thành trò cười tại lễ trao Huân chương Danh dự cho Nicholas Dockery

Vào ngày 18 tháng 6, Huân chương Danh dự đã được trao cho Thiếu tá Lục quân Mỹ đã nghỉ hưu Nicholas Dockery cùng một số cá nhân khác. Với vinh dự này, cựu sĩ quan Lực lượng Đặc nhiệm sinh ra tại Indiana đã được ghi tên vào "Đại sảnh Anh hùng" (Hall of Heroes) của Pentagon. Theo thông tin từ trang web củaquaan đội Mỹ, ông Dockery được vinh danh nhờ những cống hiến trong thời gian phục vụ tại Afghanistan vào năm 2012; khi đó, ông (với cấp bậc Trung úy) cùng các binh sĩ dưới quyền đã rơi vào một cuộc phục kích.

Khi lực lượng Taliban nổ súng tấn công, Nicholas Dockery đã bất chấp hiểm nguy để cứu các binh sĩ bị thương, nỗ lực hết mình để đưa đồng đội đến nơi an toàn. Hành động này mang lại lý do chính đáng để Donald Trump dành lời tri ân cho vị thiếu tá đã nghỉ hưu: "Thiếu tá Dockery, ông là người cuối cùng rời khỏi chiến trường ngày hôm đó, và ông rời đi như một huyền thoại, một người hùng," Tổng thống Mỹ phát biểu tại buổi lễ. Donald Trump không thể cài dây đeo huân chương, thắt giải thưởng quân sự trông như vòng cổ chó

Dù Donald Trump có thể đã dành những lời ngợi khen một cách trôi chảy, hoàn hảo, nhưng ông lại gặp khó khăn lớn khi đến lúc phải đeo Huân chương Danh dự vào cổ Nicholas Dockery. Tệ hơn nữa, mọi ống kính máy quay đều hướng về phía Trump trong khoảnh khắc đầy ngượng ngùng này khi ông loay hoay bất lực với dải ruy băng màu xanh nhạt, hoàn toàn không thể cài được khóa. Đỉnh điểm của sự xấu hổ là việc Trump cuối cùng đã cố định huân chương quanh cổ cựu binh từng tham chiến tại Afghanistan bằng một nút thắt kép vụng về,  khiến chiếc Huân chương Danh dự siết chặt lấy cổ ông Dockery trông chẳng khác nào một chiếc vòng cổ chó, làm mất đi vẻ trang trọng và tôn nghiêm vốn có của buổi lễ. 

Các đoạn video về lễ trao huy chương lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội, đi kèm với những bình luận đa dạng, từ chế giễu cho đến sự ngỡ ngàng tột độ. Tài khoản X "Republicans Against Trump" (Đảng viên Cộng hòa chống Trump) đã đăng tải trọn vẹn khoảnh khắc gây ngượng ngùng này cùng dòng chú thích: "Ông nội lại gặp rắc rối rồi." Ngay sau đó là hàng loạt lời chế giễu và mỉa mai từ những người khác phản đối ông Trump:

・"Chà, việc đó chắc chắn khó hơn nhiều so với việc nhận diện con hươu cao cổ trong bài kiểm tra nhận thức của ông ta!"

・"Ông ấy định đùa một chút, nhưng hành động đó chỉ làm giảm đi giá trị của giải thưởng mà thôi."

・"Đúng là phong thái 'tổng thống', vỗ mạnh vào lưng người quân nhân!"

・"Trông ông ấy chẳng khác nào đang bóp cổ người ta vậy!"

・"Thật nực cười, nghỉ hưu, chơi gôn và nhâm nhi Cocktail có lẽ là lựa chọn tốt hơn cho ông ấy..."

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026