Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây... Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây.. . Những đứa con bầu nhiệt huyết dâng đầy. Mang giòng họ của Lê, Lý, Nguyễn, Trần Mẹ mặc cho con vải thô áo mầu lam Mẹ dưỡng nuôi con dòng sữa Bắc,Trung, Nam Con của Mẹ đều một giống da vàng Quyết một lòng đập tan lũ hung tàn
Mẹ là tiếng nói từ một thứ tình cảm luôn chở che, cưu mang, bao dung, độ lượng,…; luôn hy sinh, cam chịu trong mọi hoàn cảnh. Đây chính là thứ tình cảm ngọt ngào thiêng liêng, làm nảy sinh nên mọi tình cảm ở đời như: tình yêu quê hương, tình yêu đất nước, tình yêu đồng bào, tình yêu con người,v.v… Nếu thiếu vắng thứ tình cảm này, cũng đồng nghĩa với sự vắng mặt hoàn toàn của mọi thứ tình cảm có trong cõi đời nầy.
Trong thi ca Việt Nam, có đến cả muôn ngàn áng văn chương tuyệt tác ca tụng tình cảm thiêng liêng này. Trong đó, hình ảnh của người Mẹ được khắc hoạ qua các hình tượng hết sức sống động, sống mãi cùng thời gian. Có lẽ trời sinh ra người phụ nữ có trái tim đa cảm nên phải chịu đựng nhiều. Đất nước Việt Nam chiến tranh triền miên nỗi đau càng chồng chất. Chiến tranh rồi cũng qua đi nhưng hậu quả để lại dường như vẫn đọng lại đâu đây. Thiệt hại về chiến tranh vô cùng to lớn, song có lẽ sự mất mát chồng con của những bà mẹ, người vợ là vết thương lòng khó lành nhất. Trong cuộc chiến xâm lược do Hồ chí Minh và đảng csVN chủ xướng đã làm khoảng 5 triệu người đã chết, trong đó gần ba triệu người trực tiếp cầm súng của cả hai miền nam bắc đã hy sinh và mất tích. Đó là con số tạm thống kê, thực sự chắc lớn hơn nhiều, số thương vong nói lên trọn vẹn tình cảnh và cuộc đời vui buồn theo vận nước của người phụ nữ Việt Nam: “Xưa tiễn chồng đi rười rượi tóc xanh, nay tiễn con đi mẹ đã lung linh đầu bạc” hình ảnh các Mẹ, các chị em quên tuổi xuân hiến mình cho đất nước những người thân yêu nhất.
Vâng! Nào là mang nặng đẻ đau, nhai cơm, nhường nơi khô nằm nơi ướt, con đau là mẹ đứng ngồi không yên,v.v… khi con còn bé bỏng; thế rồi để con lớn khôn và vững bước vào đời, mẹ lại làm thân cò lặn lội, bươn chải, vất vả nuôi con. "Nuôi con chẳng quản chi thân, Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn, Nuôi con buôn tảo bán tần, Chỉ mong con lớn nên thân với đời. Những khi trái nắng trở trời, Con đau là mẹ đứng ngồi không yên, Trọn đời vất vả triền miên, Chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con; Dẫu cho thân xác héo mòn, Miễn sao con được đủ đầy ấm no.” (Ca dao)
Vất vả thế, cơ cực thế, mẹ không hề than van! Hình ảnh người mẹ tảo tần sớm hôm dưới mưa gió trên đồng ruộng, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời; lam lũ, vất vả giữa chợ đời, gánh hàng rong trĩu nặng trên đôi vai gầy dạo khắp cùng đường cuối hẻm mong kiếm đồng lời để nuôi con ăn học thành tài cho khỏi thua sút với đời. Không có nơi nào trên thế giới mà lòng mẹ luôn quặn lòng về đàn con bất hiếu của mình như những bà mẹ VN, mẹ vô phúc đã cưu mang những đứa con phản phúc, từ bao nhiêu năm đã lừa dối đòng bào núp dưới chiêu bài chống Mỹ cứu nước giải phóng miền nam. Quê hương là tiếng nói của con tim, là dân của nước Việt oai hùng, chúng ta cần có nhiệm vụ là thở chung với hơi thở của quê hương, đau với niềm đau của mẹ Việt Nam. Hôm nay đây mẹ Việt Nam đang trăn trở vì bọn buôn dân bán nước CSVN đang tàn phá quê hương, đang cúi đầu làm kiếp Hán nô cho bọn Bắc Phương. Kể từ ngày cướp được miền Nam VN, bọn người nầy đã tạo quá nhiều hệ luỵ và lộ hẳn bộ mặt phản quốc. CSVN đã bán rẽ lương tâm để bảo vệ Đảng thay vì bảo vệ tổ quốc. CSVN đã phản bội lại quê hương và dân tộc, họ không còn tư cách để lảnh đạo đất nước. Hãy cùng với quốc dân đứng lên, nhập cuộc đẽ cùng nhau giải thể chế độ độc tài, buôn dân, bán nước để xã hội thăng hoa, Việt nam tăng tốc trên con đường hội nhập với thế giới văn minh và tiến bộ ngày hôm nay. Nhưng Mẹ yêu Mẹ đừng than khóc nữa ! Vì chúng con tuổi trẻ vẫn còn đây Chúng con nguyện cùng ra sức đắp xây Quê hương mình trong TỰ DO ấm no Xin Mẹ yêu Mẹ đừng than khóc nữa ! Vì chúng con tuổi trẻ vẫn còn đây Chúng con nguyện cùng chung sức đắp xây Chúng con nguyện đi dựng lại Quê hương Nguyễn thị Hồng (12.11.2013)
BIA TIẾN SĨ VĂN MIẾU
BIỂU TƯỢNG CHO NGUYÊN KHÍ ĐẠI VIỆT
(Di sản văn hóa thế giới)
Từ xưa ông cha ta đã từng quan niệm hiền tài là nguyên khí của quốc gia vừa là khát vọng, vừa là sức sống của dân tộc. Cùng với lịch sử phát triển của Nho học Việt Nam (1075 - 1919), thì truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và khoa bảng của Việt tộc cũng luôn được nuôi dưỡng và phát huy. Các bậc cha mẹ ngày xưa đã có ý thức chăm lo việc đèn sách cho con ngay từ khi chúng mới được sinh ra, khi còn bú ẵm, nằm nôi, qua những lời ru:
Con ơi mẹ dạy con này, Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm Làm người đói sạch, rách thơm Công danh là nợ nước non phải đền.
Thời đại khoa cử ngày xưa, trong khoa đình thí, chia những người đậu làm ba bực, gọi là tam giáp 三甲: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa là đệ nhất giáp, Hoàng Giáp là đệ nhị giáp, Tiến Sĩ là đệ tam giáp. Sau khi đậu tiến sĩ, thì tên người đậu sẽ được khắc lên bia, gọi là bia tiến sĩ. Hiện nay tại văn miếu Hà Nội vẩn còn các di tích về bia tiến sĩ.
"Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp". Đây là câu nói của Tiến sĩ Thân Nhân Trung, triều Lê, Phụng trực đại phu, Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các đại học sĩ Thân Nhân Trung vâng mệnh vua Lê Thánh Tông soạn bài ký cho tấm bia Văn Miếu, tại Quốc Tử giám, cách đây 524 năm (1484- 2008), đã khẳng định vai trò của nhân tài trong việc hưng thịnh đất nước.
Câu nói Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung không chỉ dừng lại trong xã hội thời Lê mà câu nói ấy đối với chúng ta ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Nếu như vai trò giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu, khi văn hoá, khoa học và hàng ngũ trí thức biết tỉnh thức để đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp cứu nước và xây dựng đất nước ngày hôm nay, thì mẹ VN sẽ hạnh phúc biết bao....
Theo danh sĩ Thân Nhân Trung, với kẻ sĩ thì cái danh là một việc lớn, và phải là danh thực, nên trong bài ký Đề tên Tiến sĩ Khoa Đinh Mùi (1487) ông đã viết:
“Sẽ muôn thủa bất hủ vậy, thảng hoặc chỉ tu sức văn vẻ bên ngoài, đức hạnh thiếu thốn bên trong, điều thấy không bằng điều nghe, việc làm trái với điều học, hạnh kiểm sa sút, danh giáo nhuốc nhơ, chỉ tổ bôi nhọ tấm bia này mà thôi. Không phải cái ý triều đình hy vọng ở kẻ sĩ quân tử mà cũng không phải là điều kẻ sĩ quân tử tự đối đãi với mình vậy”.
Bia tiến sĩ Văn Miếu gồm 82 tấm bia đá khắc các bài văn bia đề danh tiến sĩ Nho học Việt Nam của các khoa thi Đình thời nhà Hậu Lê và nhà Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội. Bia được đặt trên lưng rùa đá để biểu thị sự trường tồn của tinh hoa dân tộc, phản ánh được giá trị văn hóa, lịch sử của đất nước trong suốt 300 năm.
NGUYỄN ĐĂNG HUÂN 阮 登 勳1 Cử nhân, người xã Hương Ngải huyện Thạch Thất phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây, sinh năm t Sửu, thi đỗ năm 25 tuổi.
Năm 1484, với chủ trương đề cao Nho học và tôn vinh bậc tri thức Nho học đỗ đại khoa, vua Lê Thánh Tông đã cho dựng 7 tấm bia tiến sĩ đầu tiên tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho các khoa thi năm 1442, 1448, 1463, 1466, 1475, 1478 và 1481 thời Lê Sơ. Trong những năm tiếp theo, nhà Lê Sơ đã cho dựng thêm 5 tấm bia tiến sĩ các khoa thi năm 1487, 1496, 1502, 1511 và 1514. Đến thời nhà Mạc, do tiến hành nội chiến với nhà Lê Trung Hưng nên chỉ dựng được 2 bia tiến sĩ cho khoa thi năm 1518 (thời nhà Lê Sơ) và năm 1529. Như vậy, trong suốt thời kỳ nhà Mạc nắm giữ kinh thành Thăng Long, đã có 22 khoa thi tiến sĩ được tổ chức nhưng chỉ có duy nhất một khoa thi được dựng bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám là khoa thi năm 1529. Sang triều đại Lê Trung Hưng, các khoa thi tiến sĩ Nho học được khôi phục ngay từ thời vua Lê Trung Tông còn đóng đô ở Thanh Hóa. Sau khi chiếm lại được Thăng Long, các khoa thi được tổ chức đều đặn hơn nhưng cũng phải đến năm 1653 thì nhà Lê Trung Hưng mới tiến hành một đợt dựng bia tiến sĩ lớn nhất tại Văn Miếu với 25 bia tiến sĩ cho các khoa thi từ năm 1554 đến năm 1652. Sau đó, tới năm 1717 lại có một đợt dựng bia lớn thứ 2 dưới triều đại nhà Lê Trung Hưng với 21 bia tiến sĩ cho các khoa thi từ năm 1656 đến năm 1715. Với hai đợt dựng bia tiến sĩ lớn và sau đó là các lần dựng bia thường xuyên sau mỗi khoa thi cho tới khoa thi năm 1779 thì nhà Lê Trung Hưng đã dựng phần lớn trong tổng số 82 bia tiến sĩ (68/82). Sang triều đại nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn, kinh đô được chuyển vào Phú Xuân – Huế nên các bia tiến sĩ không còn được dựng tại Văn Miếu (Hà Nội) nữa. Nhà Nguyễn bắt đầu cho dựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu Huế từ khoa thi năm 1822.
BIA TIẾN SĨ VĂN MIẾU
Tất cả 82 bia tiến sĩ đều được chế tác theo cùng một phong cách: bia dẹt, trán cong, hình vòm. Các tấm bia được đặt trên lưng rùa, rùa được tạo dáng theo một phong cách chung: to, đậm và chắc khỏe. Cách thức dựng bia cũng rất độc đáo: đá dựng bia được lựa chọn kỹ càng, sau đó được thiết kế, trang trí, chạm khắc các hoa văn và bài ký. Vì được làm hoàn toàn bằng tay nên công viêc này đòi hỏi sự nhẫn nại và khéo léo rất lớn của những người thợ.
82 bia đá tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) là những tấm bia tiến sĩ duy nhất trên thế giới có bài ký (văn bia) không chỉ lưu danh những tiến sĩ đã thi đỗ trong các kỳ thi trải dài suốt gần 300 năm (từ 1442 đến 1779) mà còn ghi lại lịch sử các khoa thi và triết lý của triều đại về nền giáo dục và đào tạo, sử dụng nhân tài, do đó có tác động to lớn đối với xã hội đương thời và hậu thế. Các bài văn bia còn ghi rõ ngày tháng dựng bia, tên của người soạn văn bia, người dựng bia. Điều này khẳng định tính xác thực, nguyên bản và duy nhất của tư liệu. Các văn bia đều do những danh nhân văn hóa, trí thức lớn của đất nước biên soạn nên về cơ bản chúng là những tác phẩm văn học vô giá. Những văn bia này được viết bằng chữ Hán với cách viết khác nhau khiến cho mỗi tấm bia như một bức tranh chữ, một tác phẩm thư pháp. Mỗi dòng chữ trên 82 tấm bia đá là nguồn sử liệu vô cùng quý giá giúp chúng ta nghiên cứu về con người và sự nghiệp của nhiều danh nhân đất Việt như Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, Nguyễn Quý Đức, Đặng Đình Tướng… Hơn nữa, trong số 1304 tiến sĩ được khắc tên trên 82 bia đá thì có 225 vị từng đi sứ Trung Quốc như tiến sĩ Nguyễn Như Đổ, tiến sĩ Lê Quý Đôn… Điều này đã thể hiện giá trị độc đáo và khẳng định ý nghĩa quốc tế của bia tiến sĩ Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
Bên cạnh đó, mỗi tấm bia còn là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tinh tế và độc đáo với những hoa văn trang trí cầu kỳ mang tính cách điệu cao như hoa lá, mây, trăng, long, ly, quy, phượng. Chữ viết trên bia, các hoa văn trang trí cùng phong cách tạo dáng bia, rùa đều mang dấu ấn của thời đại sản sinh ra chúng. Nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật đã coi đây như một tư liệu quan trọng trong quá trình nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật và điêu khắc Việt Nam từ thế kỷ 15 đến 18.
Đến nay, bia tiến sĩ Văn Miếu vẫn là những bản gốc duy nhất được lưu giữ tại chỗ, liên tục kể từ khi dựng. Phần lớn các hoa văn và văn tự còn rõ, có khả năng đọc được. Tính hiếm có và không thể thay thế ở nội dung và cách thức dựng bia, giá trị lịch sử – mỹ thuật và ảnh hưởng xã hội của tấm bia khiến cho 82 bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) trở nên vô cùng đặc sắc, không đâu có được.
Chiều ngày 9/3/2010 tại Macau, Ủy ban ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã công nhận 82 bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Hậu Lê và Mạc ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) là di sản tư liệu thế giới thuộc chương trình ký ức thế giới của UNESCO.( nguồn http://www.dch.gov.vn/pages/news/preview.aspx?n=470&c=43 )
TIẾN SĨ TRONG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Đây là hình tượng tiêu biểu của một tiến sĩ trong đám đỉnh cao trí tuệ của ông Nguyễn Văn Ngọc được giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Khối cơ quan Doanh nghiệp Trung ương (tương đương Thứ trưởng)
Từ năm 2006, cán bộ đi học Thạc sĩ, Tiến sĩ trong và ngoài nước, theo tinh thần của “Nghị quyết Thu hút nhân tài” của tỉnh Yên Bái sẽ được hỗ trợ kinh phí học tập và bảo vệ luận văn, luận án. Căn cứ vào chính sách này, năm 2008 ông Nguyễn Văn Ngọc đã đề xuất được đi học. Ngày 2-10-2008, Tỉnh ủy Yên Bái có quyết định số 878 cử ông Ngọc theo học khóa Đào tạo Tiến sĩ Quản trị kinh doanh của Đại học Nam Thái Bình Dương (quyết định không ghi rõ trường ở đâu). Theo đó, ông Ngọc sẽ học tại trường này và bảo vệ Luận án Tiến sĩ tại Malaysia.
Trong khi chương trình đào tạo Tiến sĩ tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới phải kéo dài trên 2 năm (sao lại trên 2 năm, gấp đôi như thế cũng chưa chắc đã có bằng Tiến sĩ nếu học cho ra học – BVN), thì ông Ngọc chỉ cần 6 tháng đã lấy được bằng Tiến sĩ. Cụ thể:
Tháng 3-2009, ông Ngọc báo cáo hoàn thành khóa học và đề nghị tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí học tập. Điều này được thể hiện tại văn bản số 951 ngày 23-3-2009 của Văn phòng Tỉnh ủy Yên Bái gửi Sở Tài chính đề nghị vận dụng chính sách hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn Ngọc. Công văn nêu rõ: “Toàn bộ kinh phí chương trình đào tạo MBA của Trường đại học Nam Thái Bình Dương mà đồng chí Nguyễn Văn Ngọc (Phó Bí thư Tỉnh ủy) theo học là 17.000 USD. Đến nay, đồng chí Nguyễn Văn Ngọc đã hoàn thành chương trình đào tạo Tiến sĩ của Trường đại học Nam Thái Bình Dương và được nhận bằng Tiến sĩ”.
Kèm theo đó là một thông báo bằng tiếng Anh của Trường Đại học Nam Thái Bình Dương (văn bản ghi tên trường là Southern Pacific University) ban hành ngày 9-4-2008 về việc khóa đào tạo MBA, có chi phí 17.000 USD. Đáng chú ý, trong thông báo này không có một chữ nào nhắc tới ông Nguyễn Văn Ngọc mà chỉ là một tờ thông báo đơn thuần về chương trình đào tạo của nhà trường.
Dù vậy, ngày 31-12-2009, UBND tỉnh Yên Bái có quyết định 2104/QĐ-UBND hỗ trợ 74 triệu đồng cho ông Ngọc. Khoản tiền này gồm 50 triệu đồng theo chính sách thu hút Tiến sĩ và 24 triệu vận dụng chính sách khuyến khích đào tạo đối với cán bộ đi học Tiến sĩ (1 triệu/tháng). Tổng cộng 24 triệu/24 tháng.
Tuy nhiên, chỉ trong 6 tháng (kể từ khi có quyết định cử đi học), ông Ngọc đã hoàn thành khóa học và có bằng Tiến sĩ thì không hiểu 24 tháng học này được xác định như thế nào?
Ông Phạm Văn Cường, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy cho biết: Đến nay (26-7-2010). ông Ngọc vẫn chưa nộp cho tỉnh bản sao bằng Tiến sĩ, cũng như chưa xuất trình bằng cấp chính thức.
Theo tìm hiểu của Tuổi trẻ, Trường đại học Nam Thái Bình Dương mà ông Nguyễn Văn Ngọc theo học có tên là Southern Pacific University đã bị Tòa án Hawaii (Hoa Kỳ) ra phán quyết giải thể từ ngày 28-10-2003. Bằng cấp của trường này cũng không được Hoa Kỳ công nhận.
Bảo kiếm Chính Khí là quốc bảo, vật dùng để khử trừ quân bán nước và giết giặc xâm luợc quấy phá sự yên bình của Việt tộc. Nó giống như con ngựa sắt phun lửa của Phù Đổng Thiên Vuơng được Vua ban để phá giặc Ân. Vật quốc bảo nầy sẽ được trao cho người anh hùng cứu nước giết giặc Tàu xâm lược đang hống hách trên biển đông. Kiếm CHÍNH KHÍ được trui rèn bằng HỒN VIỆT trộn lẩn với tiếng gầm từ Sóng Bạch Đằng hoà với tiếng khải hoàn chiến thắng vang dội của quân Đại Việt tại Đèo Chi Lăng; gươm báo được trui trong lò VIỆT ĐẠO bằng Hịch Bình Ngô, Chiếu Cần Vương... Gươm Chính khí đã một lần trao cho Tướng quân Lý Thường Kiệt để dạy cho quân xâm lược Tàu một bài học và đánh sâu trên phần đất địch nhằm phá tan dũng khí của đạo quân xâm lược nhà Tống..https://www.facebook.com/photo.php?fbid=285815711568548&set=a.285815071568612.1073741937.100004203634759&type=3&theater
Bảo kiếm triều Nguyễn
Một ngày lạnh Nước nguời không tri kỷ Ta vỗ án thét thành ca chính khí Ðông thê thê như gió thổi u hồn Thấu buốt tận lòng người trong cốt tủy .........
Chính khí Việt khắp đất trời bàng bạc Chính khí Việt trong máu người Hồng Lạc! Gió thê thê quất dậy hồn phục hưng Gươm Vạn Thắng cứu nước nòi giết giặc!
Chính khí Việt là hồn gươm Vạn Thắng Thép tôi với máu đào hun lửa nóng, Và Ðại Việt muôn năm cả toàn dân Vượt đau nhục lên sống còn hùng tráng!
Vượt đau nhục lên sống còn hùng tráng! ( trích trong Huyết Hoa của X.Y. Thái Dịch Lý Đông A)
Ở nước ta, truyền thuyết về bảo đao, bảo kiếm rất ít người nói tới. Những bảo kiếm trong lịch sử Việt Nam phần lớn không nói tới sự sắc bén mà nói tới giá trị pháp lý, tượng trưng cho một chính nghĩa hay uy quyền của quốc gia. Bảo kiếm CHÍNH KHÍ VIỆT, là một ủy thác của quốc dân đặt lên vai người chí sĩ để được toàn quyền hành động không giới hạn, khi thống lãnh binh đội đi dẹp giặc nội lẩn ngoại thù của Việt tộc. Kiếm CHÍNH KHÍ là gươm lệnh được toàn dân đúc bằng HUYẾT LỆ dành tặng người chí sĩ anh hùng, để diệt trừ bọn tà quyền bán nước (nội thù) và bọn xâm lược bắc phương (ngoại thù). Kiếm CHÍNH KHÍ VIỆT được đúc bằng sức tõa nóng của HỒN VIỆT, bằng máu của các tữ sĩ Hoàng-Trường Sa và được trui bằng những trái tim với khát vọng độc lập và tự do cho Việt tộc.
....... Nước Mê Linh trăng thu còn vằng vặc, Sông Bạch Ðằng sóng vỗ thuyền cắc cắc. Non Chi Lăng gió cuốn rừng cung đao, Ðồng Ðống Ða xưong người phơi man mác.
Buổi Sát Thát chàm vai thề đầu mất, Ngày Bình Ngô nổi cờ không khuất tất, Khi Cần Vương nhổ mặt lũ gian hùng, Lúc Cứu Quốc vòng bôn lao uất uất.... ( trích thơ Lý Đông A)
HÀNH ĐỘNG NGANG NGƯỢC CỦA TÀU PHÙ TRONG THẬP NIÊN QUA
Trong thời gian 10 năm trở lại đây, người Việt tự do ở hải ngoại đã thay nhau tố giác nhà cầm quyền CSVN trước việc “dâng đất, dâng biển” cho Tàu cộng, để nhân dân thấy được bộ mặt Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống của đám buôn dân bán nước csVN, và đồng thời tố cáo trước dư luận quốc tế về bản chất xão trá của Tàu trong việc thôn tính nước chúng ta qua các lần xâm phạm sâu trong lảnh thổ VN bằng những hành động quân sự thô bạo trên các tỉnh dọc biên giới cũng như những hành động bao ngược trong việc ấn định đường lưởi bò trên biển đông, sau đây là một số bằng chứng cụ thể:
1.Trên tuyến đường sắt: Khi phục hồi đường sắt từ biên giới Việt – Trung đến Yên Viên (gần Hà Nội) cho Việt Nam, Trung Cộng đã đặt điểm nối rây giữa hai nước sâu vào lãnh thổ Việt Nam thêm 300m và coi đây là biên giới giữa hai nước!
2.Trên tuyến đường bộ: Trung Cộng cho ủi sập cột mốc biên giới số 18 trước Ải Nam Quan, cách ải này 100m, trên đường Quốc lộ 1, rồi đặt cột km số 0 của quốc lộ này vào sâu trên lãnh thổ Việt Nam 100m và coi đó là cột mốc biên giới giữa hai nước. Như vậy, theo Công Ước Thiên Tân, cột mốc biên giới chỉ cách Ải Nam Quan của Trung Cộng 100m, nhưng Trung Cộng đã sửa thành 200m!
3. Qua công hàm của Phạm Văn Đồng ký năm 1958 đã công khai dâng Hoàng Trường Sa cho Bắc Phương.
4. Ái Nam Quan Quan, 1/2 Thác Bản Giốc, núi Lão Sơn, 11.000km2 trong vùng Vịnh Bắc Bộ đã thuộc lảnh thổ của Tàu. 5. Qua các tài liệu cho biết từ 1974 đến 1978, Trung Cộng đã xâm phạm lãnh thổ Việt Nam tất cả 4333 vụ, chia ra như sau: 1974: 179 vụ, 1975: 294 vụ, 1976: 812 vụ, 1977: 873 vụ và 1978: 2175 vụ! 6. Tin từ Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 7.5.2014 lên tiếng: Trung Cộng gia tăng hiếp đáp Việt Nam ở Biển Đông, cáo buộc tàu Trung Cộng đã đâm tàu Việt Nam và phun vòi rồng vào tàu Việt Nam tại khu vực gần quần đảo Hoàng Sa, nơi mà Trung Cộng vừa di chuyển một giàn khoan dầu khổng lồ vào vùng biển Việt Nam.http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/china-escalate-tension-in-southchinasea-vh-05072014161017.html
Mức độ xâm phạm vùng biển VN lần này đã lên mức độ khá cao, đó là việc Tàu phù đưa dàn khoan vào thềm lục điạ VN để tiến hành khoa thăm dò, một hành động rất ngang ngược và hổn láo.http://www.youtube.com/watch?v=BHLIw-Y4j8w.
Tất cã vấn đề đều có giới hạn của nó, sức chịu đựng nào cũng có giới hạn. Với hành động ngang ngược vô lý của tàu Phù, chúng tôi, những người dân VN, kêu gọi các chiến sĩ trong quân đội nhân dân, như Lực Lượng Cảnh Sát Biển , đặc biệt là lực lượng Hải Quân, xin hãy vì tiền đồ của tổ quốc và sự trường tồn của Việt tộc hãy đứng về phía nhân dân và các lực lượng yêu nước trong và ngoài nước, đứng lên diệt tà quyền để cứu lấy giang san và đánh đuổi quân xâm lược về Tàu, như danh tướng của Đại Việt ngày xưa đã làm, đó là dạy cho bọn bành trướng một bài học thật thích đáng!!
Cách đây gần 1000, môt danh tướng của Việt Nam là Lý Thường Kiệt đã nhìn thấu được lòng dạ của anh chàng láng giềng khổng lồ xấu tánh. Người danh tướng nầy đã tìm ra một cách sống cho Việt tộc. Tầm nhìn của ông rất chiến lược để bảo vệ toàn vẹn lảnh thổ, sự yên bình và tồn tại cho Việt tộc trong cộng đồng nhân loại. Ông đã phát họa một cuộc chiến với nhà Tống, ông dùng sức mạnh tổng thể của quân Đại Việt đánh vào hậu phương của quân đội xâm lược nhà Tống, nằm sâu trong đất Tàu làm tiêu hao tiềm năng chiến đấu của đối phương, để từ đó đối phương không còn đũ ý chí xâm lược Đại Việt.
Được toàn dân trao phó, với Bảo Kiếm Chính Khí Việt cầm trong tay, ông chiến thắng rất oanh liệt và đem thành công về cho quân đội Đại Việt. Giết trên 100.000 quân nhà Tống, sự thiệt haị của quân Đại Việt chỉ là 1/10 so với quân Tống. Cũng từ đó trong dân gian xuất hiện ca dao:
Nực cười châu chấu đá xe Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng
Ngày hôm nay thì ngược lại, những người trong bộ máy tà quyền csVN đã co đầu rút cổ trước Bắc Kinh. Chỉ có những tiếng nói yếu ớt không đũ sức trấn an nhân dân trước hiễm họa mất nước. Với giặc Tàu chỉ có CHIẾN chứ không mềm dẽo ôn hoà trong tinh thần khiếp sợ!! Càng sợ chúng càng lấn lướt.. hãy cùng nhau hát to lên bài ca chống Tàu, cùng nhau tay trong tay vung bảo kiếm Chính Khí Việt để diệt bọn xâm lược Tàu, đem an bình hạnh phúc về cho Việt tộc chúng ta. https://www.youtube.com/watch?v=1i9gdFbHZlU Thuở Sát Thát chàm vai thề đầu mất Ngày Bình Ngô nổi cờ không khuất tất Khi Cần Vương nhổ mặt lũ gian hùng Lúc Cứu Quốc lòng bôn ba uất uất
Thà làm ma nước Nam hơn vua Bắc! Ðầu chẳng còn, quyết không đương cắt tóc! Lửa đốt mình cho trọn nợ non sông! Dây thắt cổ cho tròn trung xã tắc! (Lý Đông A)
Chúng ta phải sống và lấy máu để rửa mối quốc nhục do bọn Thái Thú cộng sản đã đem đến cho toàn thể dân tộc VN.
Sống mà vô dụng, sống làm chi Sống chẳng lương tâm, sống ích gì? Sống trái đạo người, người thêm tủi Sống quên ơn nước, nước càng khi.
Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ Sống sao nên phải, cho nên sống Sống để muôn đời, sử tạc ghi. ( Nguyễn An Ninh) Tuổi trẻ Hải Ngoại ủng hộ và nguyện sát cánh với những người đang ngày đêm miệt mài bảo vệ tổ quốc. Lên án Tà quyền nhân nhượng hay đồng lõa với hành vi xâm lược của Trung Cộng. Cái nhà là nhà của ta Ông cố ông cha lập raCháu con phải gìn giử lấy.... (Đồng dao) Nguyễn thi Hồng 08.5.2014
CHÚNG ĐỒNG LÕA BÁN NƯỚC
( BCH.BCT/TW/ĐCSVN+ Quốc Hội)
Trong tự điển VN chúng ta tìm thấy định nghĩa về cụm từ ĐỒNG LÕA = ( nôm na đồng: cùng; loã: cái bọc) Cùng tham gia vào một việc xấu: Tập đoàn bán nước Mafia csVN đồng lõa với gia nô dại (không phải đại) biểu trong QH. CHXHCNVN để giử đảng .
Thông thường tại các quốc gia văn minh dân chủ tự do và tiến bộ; Quốc Hội là cơ quan quyền lực nhất của một nước, đại diện cho trí tuệ của toàn dân, không phải đại diện cho tiếng nói của đảng, nhưng tại nước CHXHCNVN thì ngược lại. Đám ăn hại làm luật cho một nước mà chúng lại để Đảng đứng trên luật nước, trong hiến pháp không có điều nào đặt đảng nằm trong sự chế tài của luật pháp. Như mọi người đều biết Quốc Hội tới nay hiện diện trên nửa thế kỷ rồi mà chúng không tạo ra được một điều luật nào để chế tài những tên chóp bu trong Đảng CSVN, đúng là một gánh xiếc của đảng. Chúng họp quanh năm lãnh tiền hàng tháng đũ không thiếu một cắc, ngoài ra chúng còn nhận các bổng lộc khác dưới bàn chúng ngồi, nhưng đất nước thì lần lần không cánh mà bay sang Tàu cộng là sao??
Gần 2 tháng nay đất nước đang phải đối diện với nghịch cảnh, bị bắc phương chà đạp dìm xuống tận đáy bùn; Nhân dân đồng loạt lên tiếng khắp nơi từ trong nước ra đến hải ngoại chống lại sự có mặt của quân cướp bắc phương đang âm mưu đoạt lấy tài nguyên của nuớc ta. Ngoài việc chúng không tôn trọng chủ quyền VN mà còn lố bịch khinh thường luôn cã 90 triệu nhân dân VN. Lý do mà chúng ngang ngược coi nhà VN là nhà trống không có chủ là vì những tên thái thú từ họ Hồ cho đến các đàn em sau này, đã tiếp tay mở cửa cho chúng tràn vào nước ta.
QUỐC HỘI CHXHCNVN ĐÃ BẾ MẠC KHÔNG MỘT NGHỊ QUYẾT CHO BIỂN ĐÔNG
Không ngoài dự đoán của những ngưòi đang đau xót theo dõi tình hình nóng bỏng của biền đông trong mấy ngày gần đây, khi hai giàn khoan HD 981 và Nam Hải 9 đang có mặt trong thềm lục địa VN, tập đoàn bán nước csVN đã đồng lõa với 500 dại biểu của cái gọi là QH nước CHXHCNVN
Truyền thông trong nước vào ngày 24 tháng 6 loan tin tên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ bảy diễn ra hơn 1 tháng qua tại Hà Nội rằng ‘độc lập, chủ quyền quốc gia, hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không bị đe dọa nghiêm trọng’. Nên quốc hội lần này không ra một nghị quyết nào về tình hình Biển Đông hiện nay.
Chủ tịt Nguyễn Sinh Hùng và 500 con lợn trong QH.CHXHCNVN
Chủ tịt QH Nguyễn Sinh Hùng cũng lặp lại những điều mà người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam từng lên tiếng nhiều lần đó là ‘hành động của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phàn của Việt Nam, vi phạm luật quốc tế , trước hết là Công ước của Liên hiệp Quốc về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về Ứng xử các bên ở Biển Đông-DOC, vi phạm thỏa thuận cấp cao giữa Việt Nam và Trung Quốc về nguyên tắc chỉ đạo giái quyết vấn đề trên Biển Đông, làm tổn hại sâu sắc đến tình hữu nghị, đoàn kết, láng giềng của nhân dân hai nước’ Trong khi đất nước đang trong cơn phẩn uất, hồn thiêng sông núi căm hờn thì bọn thái thú đã vâng lệnh quan thầy đàn áp và dập tắt tất cả các cuộc biểu tình yêu nưóc của nhân dân VN. Còn Quốc Hội thì không đưa ra một nghị quyết nào về tình hình Biển Đông?? Để mọi người thấy được quyền hạn của Quốc Hội, người viết xin trích một đoạn từ:
" CHƯƠNG V nói về QUỐC HỘI (Điều 70, điều 13 ) trong Hiến Pháp 2013 của nước CHXHCNVN: *ĐIỀU13. Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia".... Hết trích!
Toàn là một đám ăn hại, trách nhiệm của đám dại biểu nầy là phải có "các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia".... nhưng không có lấy một tên nào đưa ra được một biện pháp nào để bảo vệ thềm lục điạ, tháo gở hai giàn khoan HD 981 và NH9, vậy mà cứ vun vít tuyên bố là YÊU NƯỚC? QUYẾT TÂM BẢO VỆ SỰ TOÀN VẸN LÃNH THỔ. Một tập đoàn LÁO, LỪA BỊP từ trên xuống dưới.
Trong hơn tháng nay, toàn dân VN đang đối diện với một mối QUỐC SĨ lớn lao chưa từng có trong lịch sử nước Việt, mà tập đoàn tà quyền hèn hạ csVN đã mang về cho chúng ta. Hàng ngày đồng bào chứng kiến nhiều chuyện nghịch lý xãy ra bên cạnh cuộc sống vốn đã nhiều gian lao, khổ sở trong nghèo đói, lại còn phải nhìn sự ngang ngược hống hách của quân Tàu xâm lược trên khắp các miền đất nước, từ những khu rừng thượng nguồn sát biên giới Việt Trung; Cao Nguyên Trung phần nơi mà bọn Tàu cộng đang khai quật tài nguyên của nước ta; các khu công nghiệp do người Tàu quản lý rải rác trên khắp miền đất nước....cho đến biển đảo ngoài khơi, gần đây nhất là sự kiện đặt giàn khoan HD 981 và NH9.
Giàn khoan HD 981 của Tàu Cộng trong thềm lục địa VN
Cũng như những bao lần trước, thái độ của bọn tà quyền csVN là đem loa đảng ra đặt trước toà Đại Sứ Tàu Cộng rồi la hét khan cổ, chán lại đem vào chấm hết. http://www.vietnamplus.vn/phan-doi-trung-quoc-dua-gian-khoan-den-vung-bien-viet-nam/257874.vnp. Đảo Gạc Ma năm 1988 sau khi bị tàu cộng chiếm và giết hại những người lính giử đảo, đám lãnh đạo đảng và cái quốc hội bù nhìn thối tha của nước CHXHCNVN vẩn đồng loã với nhau, ếm nhẹm tất cả sự thật, lại còn cho mấy trăm tờ báo gia nô, viết lách chạy tội cho đảng bán nước.
Tàu cộng chiếm Gạc Ma năm 1988
CHXHCNVN một đất nước được xếp hạng cao là một nước hạnh phúc thứ nhì trên thế giới; Quả thật nước CHXHCNVN thật đang hạnh phúc với 16 con khỉ đột trong Bộ Chính Trị TW/ĐCSVN, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng; Mấy chục tên tướng hèn, đứng đầu là Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng, rồi đến Tướng Trần Đại Quang Bộ Trưởng Bộ Công An....; Cho đến 500 con lợn trong Quốc Hội. Một tập đoàn bán nước để xin làm kiếp tôi mọi cho Bắc Phương, làm những đứa con ngoan của Thiên Triều
Đại tướng Phùng Quang Thanh
Đại tướng Công An Trần Đại Quang
*Bớ Nguyễn Phú Trọng và 15 con khỉ trong Ban Chấp Hành BCT/TW/ĐCSVN *Bớ 500 con lợn trong QH nước CHXHCNVN *Bớ Đại Tướng Phùng Quang Thanh! Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng nước CHXHCNVN. *Bớ những tướng hèn và những tên Hán nô, thời đại nghĩ sao sự phẩn uất của toàn dân? Các ông thấy mình chút nào xứng đáng để đứng trước đồng bào và quốc dân nửa hay không?? Theo chúng tôi nghĩ: Sống như mấy ông, sống làm chi Sống kiếp thái thú, sống ích gì? Sống mà hèn hạ, ngưòi thêm tủi Sống làm nhục nước, nước càng khi.
Nhìn hành động của đám Thái Thú Ba Đình, lòng dân không khỏi ngao ngán cho tiền đồ của Việt tộc và chủ quyền của đất nước ?
Hãy cùng nhau đứng lên bằng tinh thần tự quyết của dân tộc như người xưa đã từng làm, đó là phải diệt được nội thù, giải thể đám tà quyền hiện nay, để cứu lấy chủ quyền của VN lần lượt bị rơi vào tay giặc. Có diệt được nột thù thì mới mong chặn được bước tiến giặc Bắc Phương. Xin đừng tiếp tục vô cãm với đất nước! Cùng nhau kêu gọi tà quyền cộng sản hãy trao lại quyền hành cho quốc dân, để lựa chọn người tài đức ra gánh vác công việc cứu nguy dân tộc và đất nước. Đảng thờ Mao, Mác quang vinh Mặc cho Tổ Quốc xuống sình cũng vui Nhưng người Việt khắp năm châu phải nhất quyết đòi lại từ tay bọn bắc phương. Trả ta sông núi từng trang sử Dân tộc còn nghe vọng thiết tha Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
Không đòi, ai trả núi sông ta ( thơ Vũ Hoàng Chương)
(Sự Cố bên Phe Việt Cộng hay bản chất khát máu với đồng đội tại nơi trao trả tù binh và những người tìm Tự Do Cuối Cuộc Chiến.)
Bờ sông Thạch Hản Quảng Trị nơi trao trã tù binh năm 1973
Sự cố! Một danh từ mà phe Việt Cộng mang vào thủ đô Sài Gòn của chính quyền miền Nam VNCH ngay sau buổi trưa ngày 30-4-1975. Sự cố, nguyên là từ Hán Việt chỉ một việc vừa xảy ra (Chữ Sự thuộc bộ Quyết, chữ Cố thuộc bộ Phác) nhưng hầu như được hiểu là điều bất thường và không hay xảy ra trong một quá trình hoạt động nào đó: Máy có sự cố, có sự cố trên đường đi... (Đại Từ điển tiếng Việt, trang 1408). Ít người thuộc phía miền Nam VNCH biết đến danh từ này ngoại trừ những ai đã từng có thời gian làm việc, sống gần với phe Việt Cộng như trong các phiên họp, tù giam ở các nhà lao, nhà máy, khu vực doanh trại bộ đội...
Bài viết này, tác giả viết về các sự cố xảy ra ở những buổi trao trả tù binh cho phe Việt Cộng trong thời kỳ thi hành Hiệp Định Ba Lê 1973. Trước tiên, tác giả xin giải thích chữ Việt Cộng dùng trong bài viết là để chỉ chung Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam (tức Mặt Trận Giải Phóng và sau này họ cải danh là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam (sau ngày 6-6-1969) nhưng ai cũng biết cả hai phe họ đều là một và đều do chính quyền Hà Nội chỉ huy).
Ngoại trừ phần lớn tù binh quân nhân Hoa Kỳ (hầu hết là phi công) được phe Việt Cộng trao trả tại sân bay Gia Lâm ở Hà Nội (giam tập trung ở nhà lao Hỏa Lò sau vụ tập kích Sơn Tây ngày 20-11-1970) thì chỉ có một số rất ít tù binh quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh như Úc, Tân Tây Lan... được trao trả tự do tại Lộc Ninh. Về tù binh các bên người Việt thuộc phía chính quyền miền Nam VNCH và Việt Cộng được Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát (việc thi hành Hiệp Định Ba Lê) ấn định sẽ được trao trả tại các địa điểm như bờ sông Thạch Hãn (tỉnh Quảng Trị), Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi), Bồng Sơn (tỉnh Bình Định), Lộc Ninh, Minh Hòa (tỉnh Bình Long), Bình Thủy (tỉnh Cần Thơ)...
Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát có tên là International Commission of Control and Supervision (gọi tắt là ICCS) đã ấn định 4 đợt trao trả chính như sau:
Đợt 1 khởi sự từ 12 tháng 2 đến 26 tháng 2 năm 1973 và phía miền Nam VNCH trao trả cho phe Việt Cộng 7000 (bẩy ngàn) tù binh (bao gồm cán binh trong các lực lượng võ trang cùng tù chính trị) để nhận lại 1032 (một không ba hai) người (thuộc quân nhân, công chức, cán bộ) và 163 tù binh quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh.
Đợt 2 khởi sự từ ngày 8 cho đến ngày 13 tháng 3, phía chính quyền miền Nam VNCH trao trả cho phe Việt Cộng là 5.596 (năm ngàn năm chín sáu) người để nhận lại 1.004 (một ngàn lẻ bốn) người cùng 142 quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh.
Đợt 3 khởi sự từ ngày 14 cho đến ngày 19 tháng 3, phía chính quyền miền Nam VNCH trao trả cho phe Việt Cộng 7.294 (bẩy ngàn hai chín tư) người để nhận lại 1.214 (một ngàn hai một bốn) người cùng 140 quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh.
Đợt 4 khởi sự từ 23 đến tháng 4 năm 1973, phía chính quyền miền Nam VNCH trao trả cho phe Việt Cộng 6.619 (sáu ngàn sáu một chín) người để nhận lại 2.178 (hai ngàn một bẩy tám) người cùng 149 quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh.
Những tù binh cộng sản trước giờ trao trã
Mỗi ngày trao trả thường có từ 8 đến 10 chuyến máy bay vận tải C 130 của phía chính quyền miền Nam VNCH chở tù binh phe Việt Cộng đến tại nơi trao trả. Tù binh thuộc Cộng Sản Bắc Việt (các lực lượng chánh qui xâm nhập) được trao trả tại Quảng Trị (bờ sông Thạch Hãn) và tù binh thuộc Việt Cộng miền Nam (gồm tù chính trị, các lực lượng võ trang địa phương...) được trao trả tại nhiều địa điểm ở miền Nam.
Ngoài ra, còn có các vụ trao trả lẻ tẻ không đúng theo kế hoạch mà ICCS đã dự trù. Nơi trao trả tù binh người Việt đầu tiên là tại Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long. Ta biết Lộc Ninh (cấp quận) nguyên là một vùng dân cư hẻo lánh nằm cạnh thung lũng sông Rừng Cấm của tỉnh Bình Long, khi trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa (1972) xẩy ra thì Lộc Ninh lọt vào tay Việt Cộng (vào ngày 7 tháng 4) và kể từ đây, Lộc Ninh trở thành thủ đô của cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Ở Lộc Ninh có một phi trường nhỏ nằm giữa rừng cao su, cách quốc lộ 13 khoảng 1 km (thuộc quyền kiểm soát của trung đoàn 9 Bộ Binh miền Nam VNCH trước đó) và đã trở thành nơi để trao trả tù binh.
THÚ TÍNH CỦA CỘNG SẢN VỚI ĐỒNG ĐỘI CỦA MÌNH
Các sự cố đã xẩy ra trong các buổi trao trả mà đều do tù binh phe Việt Cộng gây ra. Trong ngày cuối của đợt 2, một tù binh Việt Cộng tên Nguyễn Văn Chẳng (nguyên là quân nhân thuộc Công Trường 9) trong lúc chờ làm các thủ tục thì đột nhiên, anh ta xin được quay về trại tù (Phú Quốc) thay vì sẽ đi sang phần đất thuộc phe Việt Cộng (các lều dã chiến gần đó) để nhận tư trang mới. Sự chọn lựa của tù binh Nguyễn Văn Chẳng là một bất ngờ, làm bối rối tất cả những nhân viên có nhiệm vụ tiến hành việc trao trả-nhận lãnh người đang có mặt tại chỗ (bao gồm đại diện ICCS, phía miền Nam VNCH cùng phe Việt Cộng). Khi được thông báo tin có tù binh xin ở lại (không về với rừng sâu âm u cùng các đồng đội-đồng chí nữa) thì khá đông các tù binh Việt Cộng khác (từ các lều bên phe Việt Cộng) liền xông đến và đả thương anh Nguyễn Văn Chẳng liền. Các đại diện của ICCS cùng nhân viên phía miền Nam VNCH liền nhẩy vào can thiệp, đám tù binh gây rối bị giải tán và bị buộc phải quay trở về chỗ cũ (các lều dã chiến). Nguyễn Văn Chẳng được các đại diện của ICCS đưa gặp các nhân viên phía chính quyền miền Nam VNCH để làm các thủ tục mới về trường hợp của cá nhân anh (chuyển sang quy chế chiêu hồi) nhưng thật không ngờ, anh ta lại đổi ý lần nữa và xin được trao trả về với đồng đội của mình. ICCS đành tiến hành tiếp các thủ tục bàn giao anh ta cho phe Việt Cộng. Việc anh Nguyễn Văn Chẳng vừa xong thì chỉ chốc lát sau, có một tù binh thứ hai (không rõ tên) xin được ở lại phía chính quyền miền Nam VNCH. Khi được thông báo, các đại diện của ICCS đã vội cách ly anh nầy đến một chỗ khá xa các lều dã chiến của phe Việt Cộng (có lẽ họ rút kinh nghiệm từ chuyện đả thương vừa rồi). Khi các thủ tục cho việc xin ở lại này đã xong, đại diện của ICCS đã hộ tống người thứ hai này ra đến tận máy bay trong chuyến quay về lại phi trường Biên Hòa.
tù binh trước giờ trao trả
Những tù binh trước giờ trao trả đã thanh toán với nhau
ICCS đang hộ tống một tù binh xin được ở lại theo quy chế chiêu hồi của VNCH
ICCS là tên gọi tắt của International Commission of Control and Supervision mà được dịch là Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát (việc thì hành Hiệp Định Ba Lê 1973) nguyên khởi đầu có 4 quốc gia thành viên là Indonesia, Canada, Ba Lan và Hung Gia Lợi. Cuối tháng 7-1973 thì Canada từ bỏ nhiệm vụ và ra khỏi tổ chức ICCS (lý do là một thành viên người Canada bị phe Việt Cộng bắt giam và hăm dọa vô lý do) để liền sau đó, ghế trống này được thế bằng quốc gia Iran (tháng 1-1974) cho đến khi tàn cuộc chiến. Trong cuộc chiến tại Ban Mê Thuột (bắt đầu từ ngày 10-3-1975) phe Việt Cộng còn công khai bắt giữ 2 đại diện ICCS của Indonesia và Iran (cấp đại úy) và chỉ trao trả họ về nước sau khi đã chiếm được toàn miền Nam VNCH. Những phương tiện đi lại của ICCS (máy bay, xe cộ, tàu thuyền...) đều được sơn 4 vạch mầu da cam để tránh ngộ nhận có thể bị tác xạ. Thực tế đã có các vụ tác xạ vào phi cơ trực thăng UH (do phe Việt Cộng gây ra) nhưng được bào chữa là do phi công bay lạc nên phía Việt Cộng hiểu lầm là phía miền Nam VNCH cố tình sơn 4 vạch để bay đánh phá vùng cách mạng. ICCS không hoạt động từ đầu năm 1975 (vì sự vi phạm trắng trợn của phe Việt Cộng khi công khai tiến chiếm tỉnh Phước Long trong ngày 6-1-1975) cho đến khi tự động chấm dứt nhiệm vụ trong ngày 30-4-1975.
Mỗi buổi trao trả đều có mặt đại diện của ICCS và 4 bên gồm Mỹ, miền Nam VNCH, Việt Cộng miền Nam và Cộng Sản Bắc Việt (gọi là Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự (UBLHQS)có trụ sở chính là trại Davis nằm trong phi trường Tân Sơn Nhứt)
Ngày 25-3 (cuối đợt 4) tại phi trường Biên Hòa, trong khi chờ đợi được trao trả cho phe Việt Cộng, 210 (hai trăm mười) tù binh xin được ở lại phần đất của chính quyền miền Nam VNCH thay vì về với phe Việt Cộng. Con số người hồi chánh quá đông đã gây bối rối cho tất cả các thành viên của ICCS cùng UBLHQS nên sự quyết định không được thống nhất. Số tù binh này liền tỏ ý quyết liệt, sẽ tự sát tại chỗ nếu như họ bị buộc phải trả về cho phe Việt Cộng. Cuối cùng ý nguyện của họ được chấp thuận.
Hai bên bờ sông Thạch Hản, nơi trao trả tù binh năm 1973
Tại sao lại có một con số quá đông tù binh xin chọn được hồi chánh khi mà cảnh xum họp với đồng đội mình chỉ sẽ diễn ra trong khoảng khắc? Câu trả lời sẽ không lạ khi ta quay trở về đợt trao trả đầu tiên tại phi trường Lộc Ninh. Buổi xế trưa ngày 22-2-1973, vừa được trao trả xong thì một nữ tù binh (trong số 904 phụ nữ) tên Bùi (người gốc Bình Định) đã bị bạn đồng tù giết chết trước sự chứng kiến của các nhân viên ICCS cùng UBLHQS. Thấy có người bị giết chết, các đại diện của ICCS đòi lập biên bản, phía chính quyền miền Nam VNCH đòi phe Việt Cộng phải trao trả lại các hung thủ để họ sẽ truy tố. Đại diện của phe Việt Cộng (trong UBLHQS) từ chối với lý do người của họ phải để cho họ giải quyết và họ đã hứa sẽ thi hành (có hay không thì không ai biết) khi về tới căn cứ (sâu tuốt luốt trong rừng). Sau cùng, sự việc đành phải để êm xuôi vì trong Hiệp Định Ba Lê không có chi tiết về giải quyết các hành vi bạo động trong việc trao trả tù binh (Điều 8, Chương III). Một sĩ quan thuộc binh chủng Quân Cảnh miền Nam VNCH (tên Đoàn C Hậu) đã kể lại những nữ tù binh tham dự việc thủ ác như sau: " Từ lúc còn ở sân trại giam Cần Thơ cho đến khi chờ lên máy bay C 130 để đến đây (Lộc Ninh), cái đám giặc cái này lúc nào cũng lấy khăn che kín mặt như sợ ai nhìn thấy, biết tụi nó là Việt Cộng...
210 tù binh phe Việt Cộng xin được ở lại miền Nam VNCH vì họ sợ hình ảnh thảm sát bởi đồng đội một khi đã bước chân hẳn vào rừng sâu âm u, không còn ICCS hoặc UBLHQS để có thể can thiệp. Những vụ tù binh bị bạn đồng tù giết chết trong các trại giam (Phú Quốc, Côn Đảo...) không xa lạ với các tù binh Việt Cộng. Nhẹ thì bị vây đánh tập thể, xô té xuống giếng nước (khi tắm rửa-giặt giũ)... Nặng thì bị móc bóng đèn (1 hoặc 2 mắt), lấy ráy tai (cây sắt đâm xuyên qua 2 tai)... và có thể tin tức về vụ giết người tại phi trường Lộc Ninh (trong buổi trao trả ngày 22-2-1973 kể trên) đã được các quân nhân Quân Cảnh miền Nam VNCH kể lại cho các tù binh nghe. Địa ngục trần gian mà phe Việt Cộng thường kể về các trại tù binh của chính quyền miền Nam VNCH (tại Phú Quốc, Côn Đảo...) chính là vì có những quỷ sứ (cái gọi là chi bộ Đảng CS trong nhà tù) sống lẫn lộn trong các phòng giam chứ không là ai khác.
Trong các buổi trao trả, tổng cộng có tất cả là 240 tù binh phe Việt Cộng xin được ở lại phần đất thuộc phía chính quyền miền Nam VNCH (chuyển sang quy chế chiêu hồi) và không hề có một tù binh phía miền Nam VNCH nào xin được ở lại với phe Việt Cộng.
Đặc biệt có một tù binh phe Việt Cộng (thuộc thành phần chính trị) được phía chính quyền miền Nam VNCH trao trả nhưng phe Việt Cộng cương quyết không tiếp nhận dù biết rõ nhân thân tù binh này là đảng viên Cộng Sản (được kết nạp vào đảng ngày 3-2-1966), có bí L.71 khi y hoạt động trong nội đô Sài Gòn. Tù binh đó là Huỳnh Tấn Mẫm, người có thời là quyền Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn (1969). Huỳnh Tấn Mẫm sinh năm 1943 tại Gia Định (ngoại ô Sài Gòn), sinh viên Đại học Y Khoa (1963)... Phe Việt Cộng giao cho Mẫm nhiệm vụ bằng mọi cách y phải nắm được những vị trí hợp pháp, công khai trong tập thể sinh viên để dấy lên mạnh mẽ phong trào sinh viên-học sinh đấu tranh ngay tại thủ đô Sài Gòn và y đã thi hành các việc phá rối-trị an như: Đốt xe Mỹ, Hát cho đồng bào tôi nghe (kêu gọi phản chiến có một phía), Chống Quân Sự Học Đường...
Sau 2 vụ Biệt Động Thành Việt Cộng (T4) ám sát sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật (ngày 28-6-1971) và giáo sư Nguyễn Văn Bông (ngày 10-11-1971) thì Huỳnh Tấn Mẫm bị bắt giam (ngày 5-1-1972) cho đến 20-2-1974 thì phía chính quyền miền Nam VNCH trao trả y tại Lộc Ninh (chung với gián điệp Huỳnh Văn Trọng, luật sư Nguyễn Long, sinh viên Cao Thị Quế Hương...) nhưng phe Việt Cộng đã từ chối. Phía chính quyền miền Nam VNCH đành phải đưa Mẫm trở về, nhưng biết chắc nếu thả ra, y ta sẽ lại lãnh đạo một số sinh viên-học sinh ở thủ đô Sài Gòn và lợi dụng luật pháp để tiếp tục phá rối trị an xã hội. Chính quyền miền Nam VNCH đã giam y tại nhà lao Chí Hòa rồi chuyển sang giam tại Tổng Nha Cảnh Sát. Hai tháng sau, ngày 21-4-1974, Mẫm được chuyển ra trại chiêu hồi tại eo biển Lagi-Hàm Tân cho đến tháng 4-1975 thì nhân viên coi trại chuyển Mẫm về giam tại Sài Gòn (bót cảnh sát gần Thảo Cầm Viên). Ngày 29-4-1975, Mẫm được trả tự do và ngay sau đó (buổi tối) y lên tiếng trên hệ thống truyền thanh (Radio và Truyền hình), ngỏ lời cám ơn những người đã ủng hộ y và y yêu cầu chính quyền miền Nam VNCH thả hết tù chính trị, kêu gọi đồng bào hãy ở lại, đừng di tản ra nước ngoài.
Tại sao phe Việt Cộng lại cố tình không tiếp nhận tù binh Huỳnh Tấn Mẫm (nêu lý do Mẫm là sinh viên, không phải là tù binh (trong các lực lượng võ trang) và yêu cầu chính quyền miền Nam VNCH trả Mẫm về với gia đình). Có người cho là phe Việt Cộng làm vậy vì họ còn muốn lợi dụng Mẫm (ở thế hợp pháp sống trong lòng nội đô Sài Gòn) nhưng làm vậy, họ đã đẩy Mẫm phải tiếp tục cảnh tù đầy (bởi các quyết định của đồng chí mình). Phe Việt Cộng đối xử với Mẫm như vậy vì có thể thấy nếu tiếp nhận y vào mật khu thì khi có dịp tiếp xúc với các người trẻ khác (thanh niên dễ hòa đồng với nhau), có thể sẽ y gieo vào đầu óc họ các ý tưởng đấu tranh-biểu tình (như khi y còn hoạt động ở nội đô Sài Gòn). Và, nếu sự việc có vậy thì họ sẽ giải quyết trường hợp y ra sao? Làm giống như chính quyền Hà Nội đã làm (bắt tập trung cải tạo) với những công nhân (hồi hương từ nước Pháp về miền Bắc Việt Nam ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến) đã lãn công, biểu tình (trước nhà máy) khi thấy công đoàn (đoàn viên đoàn Thanh Niên Lao Động) chà đạp quyền lợi của một số công nhân trong phân xưởng làm việc. Tốt hơn hết để cho chính quyền miền Nam VNCH tiếp tục giam cầm Mẫm trong bối rối (tìm cách giải quyết).
3 TÙ BINH VNCH ĐỔI LẤY 1.200 TÙ BINH VIỆT CỘNG
Nhìn các con số tù binh được trao trả trên đây, ai cũng thấy phía chính quyền miền Nam VNCH trả tự do nhiều người hơn bên phe Việt Cộng. Có buổi trao trả, phía chính quyền miền Nam VNCH trao cho phe Việt Cộng 1200 (một ngàn hai trăm) tù binh để nhận lại chỉ vỏn vẹn có 3 người tù mà họ phải nằm trên cáng như ở buổi trao trả ngày 21-3-1973 tại bờ sông Thạch Hãn.
Phe Việt Cộng thường rêu rao phía chính quyền miền Nam VNCH thường cố tình ém nhẹm con số tù binh và họ phải làm dữ (tiếp tục đấu tranh) thì phía chính quyền miền Nam VNCH mới trao trả 3.506 (ba ngàn năm không sáu) tù binh cho đợt cuối cùng (từ ngày 8-2 đến ngày 7-3-1974). Trong các phiên họp của UBLHQS tại trại Davis, phe Việt Cộng vẫn lải nhải nói là không còn giam giữ bất kỳ một tù binh thuộc phía chính quyền miền Nam VNCH và giải thích tù binh phía chính quyền miền Nam VNCH bị bắt trong chiến dịch Lam Sơn 719 là do Pathet Lào cầm giữ (trường hợp điển hình là đại tá Nguyễn Văn Thọ (Lữ đoàn 3 Nhẩy Dù) cũng như họ chối nói không biết về các tù binh biệt kích (chương trình OPLAN-34) của miền Nam VNCH bị bắt trên vĩ tuyến 17. Sau ngày 30-4-1975, những tù binh này tiếp tục ở tù thêm nhiều năm thì mới được thả. Về các tù binh Hoa Kỳ, phe Việt Cộng vẫn chối, nói không còn giam giữ bất kỳ người nào khi chiến tranh chấm dứt (quân nhân Mỹ cuối cùng rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhứt vào ngày 29-3-1973) nhưng vào mùa Hè năm 1976, sau khi có sự tiếp xúc giữa nhân viên sứ quán Việt Cộng tại Paris-Pháp Quốc và một cựu nhân viên CIA (Frank Snepp) thì chính quyền Hà Nội đã trao cho chính quyền Hoa Kỳ danh sách mới của 12 quân nhân Mỹ mất tích. Những nguồn tin từ các người tù thuộc chính quyền miền Nam VNCH (thời gian bị tập trung tù cải tạo sau ngày 30-4-1975) cho biết, họ đã từng thấy (tận mặt) các tù binh Hoa Kỳ còn sống tại các trại giam đèo heo hút gió ở miền Bắc VN.
Phía chính quyền miền Nam VNCH đã không thể trao trả cho phe Việt Cộng một tù binh nổi tiếng khác vì lý do người này khăng khăng không nhận cấp bậc và chức vụ thật của y. Đó là Nguyễn Tài (hay Nguyễn Công Tài, con ruột nhà văn Nguyễn Công Hoan), mang cấp bậc là đại tá và là Thứ trưởng Bộ Công An của Cộng Sản Bắc Việt. Nguyễn Tài bị cảnh sát quốc gia bắt được khi hoạt động gián điệp tại nội đô Sài Gòn nhưng dù đã thấy các bằng chứng về mình (do cảnh sát miền Nam VNCH chưng ra), y vẫn chối, nói một cái tên khác và khai cấp bậc y chỉ là Đại úy. Chính vậy mà phía chính quyền miền Nam VNCH không thể trao trả y cho phe Việt Cộng trong các buổi trao trả tù binh được. Ngày 30-4-1975 Nguyễn Tài được một nhân viên cảnh sát quốc gia giải thoát khỏi nhà lao Chí Hòa nhưng khi về với phe mình thì y đã bị cấp trên nghi ngờ về lòng trung thành của bản thân. Y như trường hợp của các cựu tù binh Việt Cộng khác sau khi được tha, họ phải tập trung tại các trại an dưỡng ở Sầm Sơn-Thanh Hóa và phải buộc làm kiểm điểm nhiều lần y như đang bị ở tù lần nữa. Lãnh đạo phe Việt Cộng có cái suy nghĩ quái gở là khi nhận lãnh tù binh bên phe mình về thì một mặt gọi các tù binh nầy là anh hùng, kẻ chiến thắng... nhưng mặt khác thì lại nghi ngờ về sự trung thành của họ. Thậm chí có lãnh đạo đảng còn muốn các tù binh khi bị sa vào tay chính quyền miền Nam VNCH (tại mặt trận hay trên đường hoạt động) thì người đó nên chết đi còn hay hơn là ở tù (trong tay đối phương) và để cấp trên phải đi lãnh về.