Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2016

GÓC KHUẤT CỦA LỊCH SỬ
ÂM MƯU GIẾT ÔNG THIỆU BẰNG BOM " DAISY CUTTER"
Từ năm 1973, sau khi ký Hiệp định Paris, ông Thiệu luôn bị áp lực từ nhiều phía, nặng nề nhất là từ phía tập đoàn Mỹ( Nixon-Kisssinger). Ông Thiệu thường xuyên bị đe doạ - sẻ bị lấy tính mạng nếu không ký vào Hiệp Định Paris. Thời gian từ 1973 đến ngày ông rời khỏi VN, lúc nào cũng phải sống trong sự phập phồng về một cuộc đảo chính hoặc bị ám sátĐó là cuộc đời gian truân của người Tổng Thống của nền đệ nhị Cộng Hoà trong những ngày cuối ở VN. Những người muốn giết ông gồm có: CIA, các sĩ quan cao cấp của QL.VNCH và cã quân thù VC. Cộng sản Bắc Việt không những muốn giết ông mà còn cày nát mồ mã của gia đình ông khi chúng chiếm được Phan Rang vào giửa tháng 4/1975, bọn người phi nhân này đã cho xe ủi cày và san bằng hết khu mồ mã của gia đình ông Thiệu, một tội ác mà trời đất cũng phải phẩn nộ. 

Chúng ta còn nhớ, ngày 18 tháng 4, quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật về viện trợ quân sự tài khóa 1976 trên 3 tỷ đô la dành cho nhiều nước trên thế giới, nhưng trong số những quốc gia nhận được viện trợ không có VNCH. Như vậy có nghĩa là dù cho miền nam VN không mất vào tay cộng sản ngày 30/4/1975 thì sau này trong tương lai cũng VNCH, sẽ không còn nhận được một số tiền viện trợ nào dành cho quân sự nữa - không còn ngân khoản nào để mua súng đạn, nhiên liệu và trả lương cho quân đội và công chức nữa. Vì thế nếu không mất vào tháng 4/1975 thì đến tháng 6/1975 cũng thất thủ vì không chi phí nào để đài thọ cho cuộc chiến và guống máy hành chánh.

NHỮNG ÂM MƯU ÁM SÁT TỔNG THỐNG THIỆU CỦA DÂN BIỂU NGUYỄN VĂN CỬ. (Đây là phần trích trong cuốn "Những uất hận trong trận chiến mất nước năm 1975 của tác giả Phạm Huấn-phần hình ảnh do người viết sưu tầm trên Internet và hiệu dính )

Đầu tháng 4/1975, sau khi Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2 tan rã, 2/3 đất nước đã mất vào tay cộng sản, tình hình chính trị tại Sài Gòn rất sôi sục. Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng của LM Trần Hữu Thanh  đòi ông Thiệu Phải từ chức. PT này đã lôi cuốn các tổ chức, đảng phái chính trị như như: PT tranh đấu cho Báo Chí, Luật Sư Đoàn,, Trận Tuyến Nhân Dân Cách Mạng, Uỷ Ban Hành Động Cứu Nước v..v....
Để dằn mặt những tổ chức này, ông Thiệu ra tay trước, áp dụng biện pháp mạnh, bắt giam một số ký giả những chính trị gia chống đối như các nhà văn nhà báo Vũ Bằng, Mặc Thu, Sức Mấy, luật sư Nguyễn văn Chức, Phạm nam Sách, cựu Thượng Nghị Sĩ Thái Lăng Nghiêm, Thẩm Phán Trần thúc Linh..
Tuy nhiên, mọi chuyện xảy ra sau đó đã không đúng như ông Thiệu muốn, vì sau những vụ bắt bớ này, các tổ chức chống đối này còn dữ dội hơn nửa. Đặc biệt Trận Tuyến Nhân Dân Cách Mạng đã quy tụ các đảng phái, tôn giáo như các cụ Nguyễn văn Lực, Ngô văn Kỷ (VNQDĐ) LM Trẩn hữu Thanh, LM Trẩn Học Hiệu, Thượng toạ Thích Pháp Tri (PG), các ông Phan Bá Cầm, Trần Quang Vinh (Hòa Hảo)...
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ

Tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng Thống cũng chính thức nhập cuộc, chủ trương tái lập Hội Đồng Tướng Lãnh để kết hợp các đảng phái, tôn giáo cùng với quân đội đương đầu chống cộng sản. Hậu thuẩn tướng Kỳ có một nhóm sĩ quan cao cấp trẻ nhiệt quyết và uy tín thuộc mọi quân binh chủng bí mật móc nối với các đơn vị quân đội đứng lên lật đổ ông Thiệu. bằng võ lực. Nguyễn Văn Cử, Đặng văn Âu (không quân), phụ trách liên lạc với các đảng phái chính trị. Trần Bá Hợi kết nạp cá phi công Biệt Đoàn Thần Phong, Kỹ Sư Nông Lâm Súc Bùi Anh Dũng ( Phủ Phó Tổng Thống) Lê Thành....móc nối với cá đơn vị Biệt Đống Quân, Lôi Hổ, Nhẩy Dù đang hành quân chung quang thủ đô Sài Gòn. Nhà văn Quân Đội Văn Quang, người cùng khóa sĩ quanThủ Đức với tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC ra Vũng Tàu thuyết phục tướng Lân tham gia  đảo chính.
Lực lượng quân sự quan trọng tham gia cuộc lật đổ ông Thiệu là một Lữ Đoàn TQLC được sự chỉ huy của một Trung Tá trẻ, là một cựu đảng viên Đại Việt. Anh là người củng với nhạc phụ, và cũng là đồng chí trong  Đại Việt, đã dự định bắt sống , hoặc ám sát Tổng Thống Thiệu, khi ông ra vùng I Chiến Thuật gắn hai sao cho tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh TQLC trong dịp tết Đinh Mão 1975.
Âm mưu này sở dĩ không thành công, vì trong chuyến đi đó, khi ra đến phi trường Phú Bài-Huế, đáng lẽ bay trực thăng thăm các đơn vị TQLC trấn đóng trong vùng giới tuyến, và gắn lon cho tướng Lân tại đó; giờ phút chót ông Thiệu thay đổi chương trình. Ông ra lệnh bay đến phòng tuyếnTây Nam Huế trước, và cho gọi tướng Lân về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I để ông gắn lon.
Ngày 12/4/1975, tất cả đơn vị quân đội, đảng phái chính trị sẵn sàng nhưng hai nhân chính là tướng Kỳ và LM Trần Hữu Thanh chưa sẵn sàng. Nói một cách khác là là hai nhân vật này chưa dám hành động vì Mỹ chưa bật đèn xanh. Các ông này lý do là cùng một lúc vừa chống ông Thiệu và Mỹ cùng một lúc rất nguy hiểm và khó thể thành công (!). Thời gian này, tướng Kỳ bị một nhân vật "Xịa-CIA", vừa là bạn  vừa có uy tín với ông Kỳ, trước đây là Timmes, một tướng hồi hưu ba sao của Mỹ theo ông từng nag2y. Tướng Timmes quả quyết với ông Kỳ, Tổng thống Thiệu bắt buộc ra đi, và nhóm ông Kỳ sẻ được mời để nắm quyền lãnh đạo. Tuy nhiên, lật đổ ông Thiệu bằng võ lực lúc này, người Mỹ không muốn.
Ngày 13/4/1975 dân Biểu Nguyễn văn Cử, người phi công từng với Phạm Phú Quốc ném bom dinh Độc Lập năm 1962, và cũng là " người của hành động" trong tổ chức, quyết định loại ông Thiệu bằng bom. Tối 13/4/1975, sau khi thảo luận riêng với nhóm sĩ quan cao cấp và chính trị gai. Cử về cư xá sĩ quan KQ trong Tân Sơn Nhất gặp người em, là một phi công,Trung tá Nguyễn Kim Đính  thuôc không đoàn 53 chiến thuật để bàn luận về âm mưu này. Đính là người em kế với Cử trong số 5 anh em trai con của nhà cách mạng lão thành Ngyuễ văn Lực, một lãnh tụ trong hệ phái  Đại Việt-VNQDĐ. và Cử coi Đính như một người bạn và đồng chí của anh.
Hai chiếc máy bay của Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử
sau khi oanh tạc dinh Độc Lập trên sông Bạch Đằng

Gặp Cử, Đính cười và mở đầu bằng một câu nói đùa thường lệ:
-" Ông dân biểu phản loạn! Đêm tối khuya khoắt, " Gánh" (người yêu) để đâu mà tới đây thế này?
Cử bắt tay Đính:
.Chú Đính, tình hình rất nguy ngập, anh có việc quan trọng muốn bàn riêng với chú. Mình ra ngoài nói chuyện cho tiện.
Đính vẫn cười, khi theo Cử bước ra:
_ Đồng ý, nhưng mọi chuyện cứ từ từ: " Cơm không ăn gạo còn đó", đi đâu mà vội ?
_!!!
Hai em Cử tới một góc cư xá phía sát đường thì ngu2ưg lại. Cử nhìn vào Đính hỏi:
-Chú có nghe biết về bom "Daisy Cutter"?
Đính không trả lời câu hỏi của Cử, lại cười:
_ Láu! Dân Biểu phản loạn... láu!
Cử nghiêm nét mặt chặn ngay:
-Chú Đính! Anh không muốn đùa với chú nửa, anh muốn nóichuyện đàng hoàng với chú.
-Thì em đang nói chuyện đàng hoàng với anh đây!
Cái bảnh tínhcon người nghệ sĩ của Đính là như vậy. Với anh hay bất cứ việc gì cũng đều coi nhẹ nhàng, và đều có thể đùa được.
Cử hỏi:
- Chú thấy trái bom "Daisy Cutter" chưa?

Đính gật đầu:
-Thấy! Bom "con heo"!
Mắt Cử sáng lên hỏi dồn:
-Ở đâuß
_Phi đạo 39! 5 "trự"...tổ chảng!
Cử thở phào nhẹ nhõm:
- Nếu vậy, đúng với nguồn tin mà anh biết chiều nay.
Cử lại hỏi Đính:
-Bom "con heo" thả bằng tàu bay nào hả chú?
-C 130!
Cử nắm chặt tay Đính hét lên nho nhỏ:
-Ồ! Như vậy...tuyệt!
Cử hỏi tiếp:
-Chú vẩn bay C-130 đấy chứ?
-Hiện giờ em là Sĩ quan An Ninh Phi Hành của Không Đoàn, nhưng bay lúc nào mà chả được.
Cử suýt soa:
-Tuyệt! Tuyệt!
Đính nhìn Cử giây lát,biết Cử muốn gì! Tự nhiên anh thấy ái ngại và không muốn Cử đặt nhiều hy vọng vào anh trong công việc đang dự tính. Anh nói với Cử:
-Tuy nhiên việc sử dụng trái bom không dễ như anh tưởng đâu.
- Tại sao?
-Vì cần phải có chuyên viên sử dụng đầu nổ của trái bom. Không có đầu nổ, trái bom vô dụng! Hôm qua tình cờ lái xe qua phi đạo 39, thấy đang "unload" 5 trái bom khổng lồ này, em có nói chuyện với một thằng "Tây" chuyên viên, nó nói trái bom"con heo" này chỉ khi nào có lệnh mới lắp đầu nổ vô. Lắp xong, phải " load" lên C-130 và " take off" ngay!
Cử thở phào:
- Chuyện đó có khó gì đâu, anh sẻ nhờ thằng Quý " Cút Vương" tìm chuyên viên cho anh. Quý " Cút Vương" là biệt danh của một Sĩ Quan Trưởng phòng vũ khí Bộ Tư Lệnh KQ.
Đính lắc đầu:
-Thằng Cút Vương" chưa chắc đã biết, và ngay cả mấy ông tướng KQ của mình cũng chẳng biết " tung tích" chuyên viên, và cách sử dụng mấy trái bom "Daisy Cutter" này!
Bom Daisy Cutter
Cử hỏi bằng một giọng tự tin:
- Được, chuyện đó để anh lo, nhưng anh muốn hỏi chú,nếu có chuyên viên, nếu có đầu nổ, chú có giúp anh....." chở" trái bom "Daisy Cutter" không?
Đính nhìn Cử thật lâu. Anh biết Cử đang nghĩ, đang muốn gì. Cử là người anh mà Đính kính trọng và ngưỡng phục như thần tượng, ngay từ ngày còn đi học, và lúc hai anh em bắt đầu theo đuổi nghề bay. Anh luôn làm mọi chuyện Cử muốn. Cũng vì vâỵ, trong cuộc ném bom Dinh Độc Lập ngày 26/2/1962, ngay khi Cử vừa cất cánh, dù không phải là Sĩ quan của trung tâm kiểm báo, anh đã có mặt tại đó để liên lạc với Cử, khi Cử còn ở trên trời. Chyuện này xẩy ra, chính tướng " sáu Lèo" Nguyễn Ngọc Loan, hồi đó là Đại Uý Chỉ Huy Trưởng Trung tâm, cũng phải ngạc nhiên, khi tới bắt Đính giao cho Cục An Ninh QĐ. Sau đó, khi Cử thoát sang cam Bốt, Đính ở nhà phải vô tù thay Cử, nhưng không bao giờ Đính ta thán hay phiền trách việc mà người anh của Đính đã làm...
Cử ngạc nhiên về thái độ của Đính:
-Sao? Chú trả lời anh, chú có giúp anh"chở" trái bom không?
Câu hỏi của Cử làm cho những luồn tư tưởng đang nghĩ trong đầu Đính bị gián đoạn, anh hỏi lại anh mình:
 -Em chưa từ chối bất cứ việc gì anh muốn từ trước đến nay, nhưng lần này em muốn hỏi anh, mục đích sử dụng trái bom " daisy Cutter" để làm gì?
Nét mặt Cử tự nhiên đanh lại, buông hai tiếng cộc lôc:
-Giết Thiệu!
Đôi mắt Đính mở ra thật lớn:
- Giết, Thiệu? Giết Thiệu? Anh định giết Thiệu bằng bom " Daisy Cutter"?
Cử gật đầu, lạnh lùng:
-Đúng vậy!

Giọng Đính hốt hoảng hỏi lại Cử:
-Giết Thiệu? Anh định giết Thiệu bằng " Daisy Cutter" tại đâu?
-Dinh Độc Lập!
Đính thét thất thanh:
-Không! Không được! Chuyện này sẻ không bao giờ xẩy ra!
Cử nắm tay Đính:
-Anh biết chuyện này rất khó, nhưng nếu  anh em mình không làm, sẻ chẳng ai dám làm. Chú giúp anh một lần, một lần nữa thôi! Đây không phải là chuyện cá nhân hay tư thù. Anh mong chú hiểu đây là chuyện trọng đại của đất nước. Phải loại bỏ Thiệu và " đồng bọn"ngay, mới may ra cứu vãn được tình thế, vì trễ lắm rồi!
Đính thở dài:
-Em biết lắm chứ, nhưng tại sao anh không chọn một giải pháp khác?
-!!
-Tại sao anh không thào luận với bọn "Hưng phê" F-5 " để" nhẹ một mũi tên lửa " Sidewinder" vào chiếc DC-6 khi Thiệu và đồng bọn bay trên trời? Như vậy có phải gọn và dể dàng hơn nhiều không? Hửng Phệ" F-5 là biệt danh của Trung Tá Nguyễn Quốc Hưng, Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn phản lực F-5.
Cử nắm lấy cơ hội để lung lạc Đính:
-Đúng! Chú nói đúng lắm! Giải pháp ấy anh đã chọn làm "ưu tiên I" dù hơi tội cho những anh em khác trong phi hành đoàn Thiệu...
Đính cắt ngang:
-Làm chính trị phải chấp nhận những điều đó chứ; vả lại, bọn nó, phi hành đoàn DC-6 cũng được ân sủng của Thiệu nhiều  rồi. Cử lắc đầu:
-Nhưng giải pháp đó không còn " work" nữa.
-Tại sao?
-Gần một tháng rồi, từ hôm đi Cam ranh 14/3 ra lệnh rút bỏ Cao Ngyuên đến nay, Thiệu không còn dám bay nữa!
-!!!
Một lát sau, Cử lại năm nỉ Đính:
-Chú Đính! Chỉ còn giải pháp sử dụng " Daisy Cutter" để thanh toán Thiệu và đồng bọn của hắn ta ngay tại dinh Độc Lập, Chú giúp anh nhé?
Giọng Đính đanh thép:
-Không! Anh hãy lựa chọn giải pháp khác, không bao giờ em điên rồ làm chuyện đó!
Cử ngạc nhiên đến sửng sốt về thái độ của Đính, dau đớn hỏi:
-Chú Đính! Chú hết thương anh rồi ư? Chuyện anh nhờ chú đâu phải là chuyện cá nhân, riêng tư của anh?
Đính chậm rãi;
-Em biết lắm chứ! Em biết đây là chuyện của đất nước, nhưng nếu quyết định của anh chỉ ảnh hưởng đến em, đến anh, hay đến những người trong gia đình mình không thôi, em sẻ làm ngay không thắc mắc. Điều này chính anh đã thấy. Sau vụ ném bom Dinh Độc Lập năm 1962 của anh, những chuyện gì đã xẩy ra khi anh bay thoát sang Cam Bốt? Thầy phải trốn vào chùa, mẹ bị tù hơn 6 tháng, chị Tuất vợ anh, đẻ con trong tù, bị lao,một năm sau mới được về. Còn anh Năng, em và 3 đứa em trai khác, ở tù cho đến ngày lật đổ ông Diệm...
Cử ôm đầu:
- Thôi! Chú đừng nói nửa ! Nhưng tôi vẩn yêu cầu chú giúp tôi thêm một lần, chỉ một lần này thôi!
Đính nhìn anh thương hại, rồi chậm rãi hỏi Cử
- Anh quyết định sử dụng " Daisy Cutter" để giết Thiệu, nhưng anh đã biết về sức công phá, và kết quả tai hại của trái bom này chưa?
Cử đáp không suy nghĩ:
-Có chứ! Tôi biết chắc trái bom " Daisy Cutter" thả xuống Dinh Độc Lập, Thiệu và đồng bọn hắn không thề nào thoát chết được, như ông Diệm đã thoát chết khi trái bom 500 cân Anh trên cánh khu trục cơ AD-6 của tôi rơi cách 50 thước mà ông Diệm không chết!
Đính lắc đầu, và bằng một giọng buồn buồn nói với Cử:
- Như vậy, có nghĩa là anh chẳng biết gì về trái bom" Daisy Cutter" này cả!
-Chú nói sao? Tôi không hiểu!
-Bom " Daisy Cutter" là một trái bom "tiểu nguyên tử" với khối thuốc nổ 15.000 pounds (7tấn). Zrái bom này chiếu dài và chiều cao vừa kít với với chiếc vận tải cơ  Hercules  C-130, sau khi tháo gỡ hết ghế trong thân tàu.
Lấp trái bom trên đường rầy của C-130 rồi, muốn di chuyển trên máy bay phải lách người, lưng sát vào thân máy bay, mới qua được. Công dụng của bom " Daisy Cutter" trong cuộc hành quân lớn cấp quân đoàn, và lộ quânn, để thiết lập chớp nhoáng một căn cứ hỏa lực, để thả đại bác và chiến xa xuống, hay bãi bốc quân bằng trực thăng, chuyển vận cho một sư đoàn bộ binh. Khi trái bom thả xuống, ở bất địa thế nào, trong khu rừng rậm, đồi núi, cây cao, sẻ cắt bằng phẳng một khu đất với chiều dài, rộng bằng một sân chơi Football của Mỹ. Và sức ép, tầm nhiệt là 5 dậm đường kính.
-Ai cho chú biết những chi tiết này?
-Thằng "Tây" chuyên viên ở phi đạo 39 ngày hôm qua, khi em nói chuyện với hắn.
-!!!
Bỗng Đính hỏi Cử:
-Anh nghĩ sao nếu bom " daisy Cutter" thả xuống Dinh Độc Lập? Bao nhiêu người sẻ chết? Lịch sử  sau này khen hay kết tội anh đã giết Thiệu bằng bom " Daisy Cutter"
Sau 30 Tháng Tư năm 1975, phi công Nguyễn Văn Cử bị cộng sản đưa đi tập trung cải tạo gần 10 năm rồi sau đó ông được đi định cư tại Hoa Kỳ.“Ông Augustino Nguyễn Văn Cử, cựu thiếu tá Không Quân, nguyên dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, đã  về với Chúa vào lúc 11 giờ 10 phút sáng ngày 8 tháng 10, năm 2013, tại San Jose, California, hưởng thọ 79 tuổi. Ông bị ung thư thư phổi một thời gian dài trước khi mất.
Đó là câu chuyện ám sát Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu bằng bom "Daisy Cutter" bất thành vì người em của Nguyễn văn Cử không đồng ý với anh trai, thả loại bom này xuống Dinh Độc Lập trong những ngày cuối cũa tháng tư đen 1975. Đó cũng là lần thoát chết cuối cùng của những âm mưu ám sát ông Thiệu của các quân nhân QL.VNCH.

Câu chuyện đối thoại giửa hai anh em dân biểu Nguyễn văn Cử và Trung Tá KQ Nguyễn Kim Đính là phần trích từ cuốn: "Những uất hận trong: Trận chiến mất nước 1975 " của Phạm Huấn, từ trang 138 đền trang 146.
Phạm Huấn là một nhà báo quân đội và trong “Bộ Biên Tập Diều Hâu”.
Thành viên Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên và 2 Bên, đặc trách về Báo Chí, khi Hiệp Định Paris 1973 được ký kết.Chủ tịch Hội Phóng Viên Chiến Tranh Việt Nam, 1972-1975.
Tác giả đã theo học Trường Võ bị Đà Lạt năm 1956, Trường Đại Học Quân Sự năm 1963.
Và các Trường Quân sự tại Hoa Kỳ: Infantry School (Fort Benning, GA, 1958), Civil Affairs School (Fort Gordon, GA) và Special Warfare School (Fort Braggs, NC, 1965).…
Tác giả Phạm Huấn, trong những lời cuối của cuốn bút ký chiến trường lịch sử “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975” đã bày tỏ: “Tôi đã viết ra tất cả những bí mật, những cái lệnh của các tướng lãnh, lãnh đạo đất nước và quân đội, và mọi diễn biến xảy ra trong “Cuộc rút bỏ Cao Nguyên tháng 3,1975”, dưa đến sự sụp đổ tinh thần, làm tan rã QLVNCH, và mất nước sau đó. Những tiết lộ trong cuốn sách này, ngoài đoạn viết về “quyết định Cam Ranh 14.3” của năm tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang, Phú; tất cả là sự thật và có chứng tích
Xem thêm về Bom Daisy Cutter: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=236366239846846&set=a.236365809846889.1073741871.100004204144219&type=3&theater

TRƯỚC NGÀY ÔNG THIỆU RỜI VN
Trong cuốn hồi ký "Đất Nước Tôi" được xuất bản vào năm 2003, vị thủ tướng cuối cùng của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là ông Nguyễn Bá Cẩn cho biết rằng:
“Cũng chính ngày 20 tháng 4 nầy, trong lúc Cộng Sản Bắc Việt đang chặt tay, chặt chân để bóp cổ và chọc thủng bụng theo thế đánh mà bọn chúng thường rêu rao để tuyên truyền thì đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa đã “trảm thủ” miền Nam bằng một nhát gươm ân huệ. Thật vậy, sáng hôm ấy, Đại Sứ Martin đến gặp TT Thiệu. Sau khi Đại sứ Martin ra về thì một màn khói im lặng và bí mật bao phủ Dinh Độc Lập cho đến sáng hôm sau” (Nguyễn Bá Cẩn: Đất Nước Tôi, Hoa Hoa Press, Derwood, Maryland, trang 420)
Ngày Chủ Nhật 20 tháng 4 không chỉ có Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin mà còn có cả đại sứ Pháp Mérillon đến hội kiến với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập với mục đích thuyết phục ông từ chức để cứu vãn tình hình vì phe Cộng sản dứt khoát không chịu thương thuyết với ông. Theo Frank Snepp và các tác giả của bộ “The Vietnam experience” thì Đại Sứ Mérillon vào gặp TT Thiệu trước Đại sứ Martin, tuy nhiên theo Oliver Todd thì ông đại sứ Pháp vào gặp TT Thiệu sau ông đại sứ Hoa Kỳ.
Oliver Todd cho biết: vào ngày 20 tháng 4, Đại sứ Mérillon đến Dinh Độc Lập một mình và nói chuyện thẳng với TT Thiệu. Đại sứ Mérillon nói rằng: “Thưa Tổng Thống, tôi đến gặp Ngài tại vì tình hình đã trở nên vô cùng nghiêm trọng. Không còn vấn đề quân sự nữa”. TT Thiệu không trả lời và Đại sứ Mérillon nói tiếp: “Tôi thấy chỉ còn là vấn đề chính trị. Cần phải để cho một tiến trình dân chủ được khai triển”
“Tổng Thống Thiệu ngồi nghe trong khi Đại sứ Mérillon tiếp tục trình bày gần như là độc thoại về những thực tế mà ông Thiệu dần dần bắt đầu hiểu. Đại sứ Mérillon nói rằng chính phủ chỉ còn nắm giữ được vài thành phố lớn nhưng ba phần tư lãnh thổ đã bị mất vào tay Cộng sản, rồi ông Đại sứ nói đến những mối liên lạc thân hữu giữa cá nhân hai người và cả giữa bà Thiệu và bà Mérillon nữa, ông kêu gọi đến trách nhiệm trước lịch sử, đến danh dự cá nhân và yêu cầu Tổng Thống Thiệu nên làm một sự hy sinh lớn lao cho dân tộc Việt Nam qua một sự thương thuyết không thể tránh khỏi để cho một vài quyền lợi nào đó còn có thể cứu vãn được.
“Tổng Thống Thiệu bắt đầu nói đến những tái phối trí cần thiết, về sự phản bội của Mỹ và tinh thần chủ bại của một số tướng lãnh. Rồi Tổng Thống Thiệu kết thúc cuộc hội kiến bằng một câu nói rất bình dân: “thôi, tới đâu hay tới đó” và ông Đại sứ ra về” (ghi chú: Oliver Todd: sách đã dẫn, trang 312)

Vào hồi 10 giờ sáng, đến lượt Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin vào gặp Tổng Thống Thiệu và cuộc gặp kéo dài trong một tiếng rưởi đồng hồ.
Đại sứ Martin trước hết trình bày với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về nhận định của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đối với tình hình quân sự hiện tại. Thực ra thì bản nhận định nầy đã được Frank Nepp, một chuyên viên phân tích tình báo (intelligence analyst) của CIA soạn thảo. Trong cuốn Decent Interval, Frank Nepp tiết lộ rằng ông đã được Polga, Giám Đốc CIA tại Sài Gòn ra chỉ thị phải “soạn thảo bản nhận định càng đen tối càng tốt chừng đó. Đại sứ Martin sẽ dùng bản nhận định nầy để thuyết phục ông Thiệu rằng đã đến lúc ông ta phải ra đi”
Thứ hai 21/4/1975 Ông Thiệu từ chức

Sau đêm suy nghĩ, trưa ngày hôm sau, thứ Hai 21 tháng 4, TT Thiệu mời Phó Tổng Thống Trần Văn Hương và Đại Tá Trần Thiện Khiêm, cưu thủ tướng, đến Dinh Độc Lập và thông báo với họ rằng ông sẽ từ chức. Tổng Thống Thiệu kể lại cho hai nhân vật nầy cuộc hội kiến với đại sứ Pháp và đại sứ Hoa Kỳ ngày hôm trước và nhấn mạnh rằng cả hai ông đại sứ đều không chính thức khuyến cáo ông từ chức, tuy nhiên vì tình hình quân sự đã trở nên vô vọng và ông cảm thấy rằng ông không còn có thể phục vụ đất nước hữu hiệu được nữa cho nên ông phải từ chức. TT Thiệu nói với cụ Trần Văn Hương và Đại Tướng Trần Thiện Khiêm rằng ông muốn bảo tồn tính hợp pháp của chế độ VNCH và do đó ông yêu cầu Phó Tổng Thống Trần Văn Hương nhận lãnh chức vụ Tổng Thống VNCH để cứu vãn tình thế.

ÔNG THIỆU RỜI VN TRONG SỰ BẢO MẬT TUYỆT ĐỐI

Ngày 25-4-1975, Polgar lái xe lên Tân Sơn Nhất gặp đại tá vc Võ Đông Giang, người đại diện của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CHMNVN) trong Ủy ban quân sự 4 bên. Giang xác nhận một giải pháp chính trị có thể hình thành và Hà Nội sẵn sàng chấp nhận Minh là đối tác và lần đầu tiên nói chính phủ CHMNVN không phản đối sự hiện diện của Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn.
Giang nói mình đang chờ đợi việc Dương văn Minh thay Ông Trần văn Hương và yêu cầu Polgar thông báo nếu có diễn tiến mới. Cũng trong ngày 25-4, đại tá Toth gặp Polgar cho biết, Hà Nội muốn biết có những ai trong danh sách nội các khi Minh thay Hương và hạm đội Mỹ túc trực ngoài hải phận quốc tế của Việt Nam để làm gì? Polgar nói, hạm đội chờ làm công tác di tản và cứu trợ. Polgar yêu cầu Toth cho Hà Nội biết Mỹ không muốn thấy các cuộc không kích vào Sài Gòn như đã xảy ra trước đây. Những cuộc ném bom như vậy có thể làm cho các thành phần quân nhân cực hữu tại Sài Gòn bạo động và sẽ không thể sắp xếp được một giải pháp êm thấm. Polgar nhấn mạnh việc Hương trao quyền cho Minh sẽ diễn ra nhanh chóng.
Để chuẩn bị việc chuyển giao quyền lực, ngày 24-4, Đại Sứ Mỹ Martin yêu cầu Polgar sắp xếp để Thiệu rời khỏi Việt Nam. Sự ra đi của Ông Thiệu và Khiêm được Polgar sắp xếp một cách tối mật. Không một người Việt Nam nào biết (ngoài những người cùng đi với ông Thiệu và Khiêm) và chỉ những người Mỹ liên hệ sắp xếp kế hoạch ra đi mới được biết. Thận trọng đến nỗi Polgar phải nhờ Frank Snepp, chuyên viên phân tích cao cấp của Tòa Đại sứ Mỹ làm tài xế cho Ông Thiệu và Khiêm.
Cuộc di tản được tổ chức vào đêm 25-4 và CIA dùng một máy bay trước nay không dùng tới. Chiếc máy bay C-118 tầm xa do Tổng thống Johnson dành riêng cho Đại sứ Bunker dùng để thỉnh thoảng đi thăm vợ là bà Carol Bunker tại Cátmanđu, Nepal. Sau khi ông Bunker hết làm đại sứ tại Việt Nam, chiếc máy bay C-118 vẫn nằm trong kho tại sân bay Tân Sơn Nhất, không ai dùng tới kể cả Đại sứ Martin. Polgar hỏi và được biết chỉ cần vài giờ bảo trì và chuẩn bị là máy bay có thể sử dụng được.
Ông Thiệu giao cho Khiêm liên hệ với Polgar sắp xếp nhân sự và hành trình. Đoàn người kể cả Ông Thiệu và Khiêm được lên danh sách gồm 14 người. Mỗi người được mang một túi hành lý và tối 25-4 tập trung tại nhà của Khiêm trong Bộ Tổng tham mưu gần sân bay Tân Sơn Nhất. Từ nhà mình, cũng ở trong Bộ Tổng tham mưu, ông Thiệu chờ trời thật tối mới bước sang nhà Khiêm.
Polgar sau khi đến sân bay Tân Sơn Nhất gặp Giang đã ghé qua nhà ông Khiêm gặp tướng Timmes. Timmes và Polgar dùng chiếc đàn dương cầm ở nhà Khiêm làm bàn viết để điền giấy tờ tị nạn (parolee) cho đoàn người. Tổng cộng 12 người. Có hai người bỏ cuộc.
Vào sân bay, xe phải đi qua hai trạm mà Polgar cho là nguy hiểm: Cổng ra Bộ Tổng tham mưu và nhất là cổng vào sân bay nên Polgar thận trọng dùng xe của Đại sứ Martin với biển số và cờ ngoại giao đoàn để chở ông Thiệu và Khiêm, giả như một đoàn xe đưa đón một phái đoàn ngoại giao cao cấp. Qua cổng sân bay, Polgar yêu cầu Thiệu cúi thấp người và ông Thiệu làm theo.
Đại sứ Martin đứng đợi tiễn ông Thiệu tại chân cầu thang máy bay trong bóng tối mờ nhạt. Polgar lên máy bay cho Hoa tiêu trưởng biết mục đích của công tác và ông ta cần làm những thủ tục gì khi máy bay đến Đài Bắc. Khi chiếc C-118 khuất dạng trong bóng đêm, Polgar điện cho cơ sở CIA ở Đài Bắc biết giờ phỏng định máy bay tới, sau đó gửi điện văn báo cáo với Langley: “Thông báo quý cấp, thi hành lệnh trên, CIA Sài Gòn đã di tản thành công cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và đoàn tùy tùng 10 người khác. Máy bay cất cánh lúc 21 giờ 20 phút ngày 25 tháng 4, giờ địa phương”.
https://vuongthuc.wordpress.com/2013/04/29/viet-nam-1975-10-ngay-cuoi-cung-cua-vnch-tran-dong-phong-p2/
Sau một thời gian sống bên Anh, TT Nguyễn Văn Thiệu cuối cùng qua Mỹ và từ trần ở Boston vào năm 2001. Đời ông gặp nhiều sự trớ trêu, bị Đồng Minh phản bội, bị dân miền Nam và người Việt hải ngoại oán giận nhưng lại được kẻ thù minh oan. CSVN là người đầu tiên minh xác ông không mang 16 tấn vàng ra khỏi nước qua lời của Tổng bí thư đảng cộng sản VN Nguyễn Văn Linh.



Trịnh khánh Tuấn 16/7/2016

Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2016

Phạm Phú Quốc Và Phi Vụ Thả Bom Dinh Độc Lập, Sài Gòn 1962

Gman
LTS.- Hồn Việt UK online nhận được bài viết: "Phạm phú Quốc và phi vụ thả bom Dinh Độc Lập, Sài Gòn 1962. " Chúng tôi tin rằng tác giả đã mang lại một số sự kiện có thật xảy ra cho tình hình chính trị của đất nước dưới thời Đệ nhất VNCH. Và, chắc chắn sẽ là một phần nhỏ nhỏ sử liệu cận đại của quê hương không may mắn của chúng ta.

Kính mời quý bạn đọc cùng theo dõi.

Phạm phú Quốc và phi vụ thả bom Dinh Độc Lập, Sài Gòn 1962.

Trong Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, chắc ai cũng đều biết tới tên anh Phạm Phú Quốc. Anh bắt đầu nổi tiếng không chỉ sau khi anh tử trận trong một phi vụ Bắc Phạt vào năm 1965, hay nhờ bản nhạc mà nhạc sĩ Phạm Duy đã biến anh thành "Người Hùng Mang Tên Quốc" mà chính là qua vụ anh đã tham gia vào cuộc oanh tạc Dinh Độc Lập trong năm 1962. Từ đó đến nay, không biết có ai đã viết về vụ oanh tạc này hay chưa, tuy đó là một sự kiện liên quan mật thiết đến quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, nếu không nói là nó có tầm quan trọng không ít đối với lịch sử cả nước Việt Nam Cộng Hòa. Vì thế, chúng tôi mạnh dạn trình bày trong sự hiểu biết của chúng tôi để lưu lại mai sau những dữ kiện có thật.

Nếu bạn đọc tìm hiểu về anh Phạm Phú Quốc qua cuốn Quân Sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa (mà chúng tôi có đánh máy lại kèm theo phần tài liệu tham khảo dưới đây) thì bạn sẽ thấy trình bày về phi vụ cuối cùng của anh trong năm 1965, một vài dòng tiểu sử, và phần lớn nói về việc cải táng cho anh Quốc từ vùng anh bị tử trận ở Hà Tĩnh đến nơi an nghỉ vĩnh viễn tại quê nhà ở Hội An tỉnh Quảng Nam

Vào năm 1962, Trung Úy Phạm Phú Quốc giữ chức vụ Trưởng Phòng Hành Quân của Phi Đoàn 514 đồn trú tại Biên Hòa trong Căn Cứ 2 Trợ Lực Không Quân (CC2TLKQ).

Phi Đoàn 514 là đơn vị biệt lập, ngang hàng với một tiểu đoàn, có quân số vào khoảng 400 người, với trang bị theo bản cấp số quân dụng là 25 phi cơ khu trục. Lúc đó, Phi Đoàn 514 sử dụng phi cơ A-1H Skyraider. Đơn vị có tất cả ba phòng sở. Phòng Hành Quân lo việc huấn luyện và hành quân sử dụng hoa tiêu khu trục hiện hữu vào khoảng 25 người, nếu tính tỷ lệ trên số phi cơ hiện hữa thì ta có 1/1, nghĩa là một người bay một phi cơ. Đó là một tỷ lệ quá kém chỉ áp dụng trong thời bình. Vì cả KQVN chỉ có 2 phi đoàn trong năm 1962, một ở Nha Trang là Phi Đoàn 516 thành lập trong năm 1962, và một ở Biên Hòa thành lập từ năm 1956, nên công tác không chỉ xuất phát từ hậu cứ nơi đồn trú mà còn phải biệt phái nhiều nơi khác nhau như ở Sóc Trăng để tham dự Chiến Dịch Bình Tây, ở Đà Nẵng trong các cuộc hành quân Lam Sơn, tại Nha Trang hay Pleiku (khi PĐ516 chưa được thành lập) để tăng cường yểm trợ cho Vùng 2 Chiến Thuật. Công tác huấn luyện chuyển tiếp đơn vị từ các hoa tiêu các ngành khác trên phi cơ A-1H như từ C-47, T-28, T-33 hay O-1A. Việc huấn luyện chuyển tiếp cho các hoa tiêu này cần đến phi cơ T-6 rút từ Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang về, nâng cấp số phi cơ thêm 9 chiếc T-6 nữa. Thời đó, mọi người đều trẻ trong nghề, trẻ trong chức vụ chỉ huy, nhưng trách nhiệm thật tình khó mà lường được.

Ngoài Phòng Hành Quân còn có hai Phòng biệt lập nữa với trọng trách thật to lớn, đó là Phòng Hành Chánh và Phòng Vật Liệu.

Phòng Hành Chánh chỉ lo việc quản lý hồ sơ nhân viên trực thuộc.

Phòng Vật Liệu với hai Ban Bảo Trì và Tiếp Liệu đảm trách bảo trì cấp phi đoàn. Chính Phòng Vật Liệu cũng như Phòng Hành Quân thiếu rất nhiều chuyên viên khả năng và kinh nghiệm cần thiết để bảo đảm cho sự an toàn hoạt động của đơn vị. Và phần lớn, họ đều là hạ sĩ quan binh sĩ, với đồng lương thấp kém, lại thêm thay phiên nhau biệt phái hoạt động ngoài đơn vị. Tình huống một cảnh hai quê đã làm cho sức khỏe và tinh thần phục vụ của mọi nhân viên đều sa sút khi cuộc chiến tiếp diễn liên tục và càng lúc càng gây go. Đành rằng nhiệm vụ của cấp chỉ huy là phải biết nâng cao tinh thần chiến đấu của thuộc hạ, nhưng yếu tố chính căn bản là thiếu người và tiện nghi để có thể hoạt động hiệu quả.

Phi Đoàn 514 đồn trú trong CC2TLKQ. CC2TLKQ là đơn vị yểm trợ về tiếp vận nhưng cũng là cấp chỉ huy lãnh thổ của phi đoàn. Lúc đó, tại Biên Hòa có hai đơn vị Không Quân đồn trú là Công Xưởng Không Quân và Phi Đoàn 514.

Căn cứ có trách nhiệm yểm trợ về mọi mặt tiếp vận và phòng thủ đơn vị, như nhà cửa, lương bổng, xăng nhớt, bom đạn, xe cộ, truyền tin, bệnh xá, chùa chiền...và nhất là về an ninh lãnh thổ.

Hoạt động hành quân của Phi Đoàn 514 được đặt dưới sự điều động tổng quát của một cấp chỉ huy hành quân là Trung Tâm Hành Quân Không Quân (TTHQKQ).

TTHQKQ đặt tại Tân Sơn Nhứt, trong đó có phần việc phối hợp với Không Quân Hoa Kỳ là TACC, chữ tắt của "Tactical Air Control Center". TTHQKQ có quyền chỉ huy hành quân trực tiếp đến mọi đơn vị chiến đấu Không Quân, bao gồm cả đơn vị kiểm báo (radar) để hướng dẫn, điều khiển, và kiểm soát mọi phi cơ đang bay trong không phận Việt Nam Cộng Hòa dù thi hành phần nhiệm nào của Không Quân chúng ta như Tìm Cứu, Phòng Không, Không Trợ, hay xuất ra khỏi không phận để chiến đấu trên những vùng ngoài lãnh thổ. Điều này quan trọng đến vụ thả bom Dinh Độc Lập mà chúng tôi đề cập đến sau này.

Tóm lại, vụ thả bom Dinh Độc Lập trong năm 1962 do Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử thực hiện có liên quan đến hai đơn vị Không Quân khác, đó là TTHQKQ và CC2TLKQ. Sau đây, chúng tôi xin trình bày diễn tiến của ngày hôm ấy, và các hệ quả tai hại của nó.

Trong chức vụ Trưởng Phòng Hành Quân của Phi Đoàn 514, anh Quốc chăm lo về huấn luyện đơn vị cho hoa tiêu, đặt hoa tiêu trong tình trạng túc trực hành quân, và thi hành lệnh hành quân từ TTHQKQ. Nói cách khác, trong chức vụ này, anh Quốc toàn quyền sắp xếp các phi vụ huấn luyện và hành quân hằng ngày.

Anh NVC thuyên chuyển từ Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang (TTHLKQ) về Phi Đoàn 514. Anh NVC đã là một hoa tiêu giỏi làm huấn luyện viên dạy khóa sinh học lái trên các phi cơ O-1A hoặc T-6 tại TTHLKQ. Do đó, chỉ huấn luyện xuyên huấn trên A-1H trong thời gian một tháng, anh được xác định hành quân trên A-1H với tư cách phi tuần viên, nghĩa là người có thể bay hành quân theo một người khác hướng dẫn trong các phi vụ không trợ hỏa lực. Trong thời gian ngắn ngủi là một tháng, chính anh Quốc đã chăm sóc huấn luyện cho anh NVC, và chỉ có anh Quốc huấn luyện cho anh NVC mà thôi. Như vậy, hai người có thể bay rất ăn ý với nhau sau thời gian huấn luyện. Anh Quốc là một hoa tiêu khu trục giỏi, tức nhiên chỉ bảo cho anh NVC cũng cặn kẽ và chu đáo hơn bất cứ ai khác.

Anh NVC đã tham gia hành quân với anh Quốc một vài chuyến trước khi việc dội bom Dinh Độc Lập xảy ra. Ngày hôm đó, anh Quốc dẫn anh NVC trong một phi vụ không trợ hỏa lực cho Vùng 4 Chiến Thuật, xuất phát từ hậu cứ Biên Hòa từ sáng sớm, nghĩa là đợt túc trực đầu tiên phải thi hành phi vụ theo trong lệnh bay. Phi cơ trang bị bom nổ, bom xăng đặc "Napalm", có thể có hỏa tiển, và đầy đạn đại bác 20 mm nạp trên 4 khẩu của từng phi cơ. Chúng tôi không biết rõ số bom đạn mang theo trong phi vụ này cho từng phi cơ, nhưng hai phi cơ thường được trang bị như nhau. Có thể có các cở bom nổ như 500lbs, 250lbs hay 100lbs. Có thể có cả hỏa tiển không địa loại thường chứ không cần loại xuyên phá, vì đây là trang bị tổng quát dành cho mọi cuộc hành quân không trợ hỏa lực cho các cuộc hành quân trong hai vùng, V3CT và V4CT, tùy số bom đạn tồn kho có những gì, nhưng chắc chắn có bom xăng đặc Napalm và bom nổ 500lbs vì hai loại bom này đã được thả trên Dinh Độc Lập.




Phi vụ các anh Quốc và NVC thi hành ngày hôm đó là một phi vụ yểm trợ trong V4CT, nên sau khi cất cánh đã lấy hướng bay về vùng này, tức nhiên tiện đường tạt qua khu vực Saigon là một khu vực cấm bay khi không có lệnh, trừ trường hợp diễn hành trong những ngày lễ lớn mà phi cơ không thể được trang bị bom đạn. Cấm bay vì phải bảo vệ an ninh cho vùng đông dân cư chứ không nhất thiết vì một lý do nào khác. Hai phi cơ này đã bay vào khu vực Dinh Độc Lập nằm ngay ngã ba đường Thống Nhất và đường Công Lý và thả bom ngay trên địa điểm này.

Phi Đoàn 514 nhận tin này thẳng từ TTHQKQ đến văn phòng chỉ huy trưởng phi đoàn. TTHQKQ yêu cầu cho phi cơ lên đuổi phi tuần đang oanh tạc Dinh Độc Lập ngay lập tức. Một phi tuần nhẹ trang bị toàn súng đại bác mà thôi do chúng tôi hướng dẫn cùng anh NVL cất cánh ngay và hướng về Saigon. Khi chúng tôi trên đường đến không phận Dinh Độc Lập thì nghe tiếng gọi của anh NVC bảo chúng tôi hãy tấn công Dinh Độc Lập, một lời kêu gọi đanh thép và quả quyết. Lúc đó, chúng tôi chưa ý thức được vị trí và tình trạng của các phi cơ của anh Quốc và anh NVC ra sao hay ở đâu. Thật là một tình huống khó xử, vì nhiệm vụ phải bay lên theo sự điều động của một thẩm quyền chính thức có quyền điều động như TTHQKQ để thi hành một phi vụ mà anh em nào đã từng bay cũng cảm thấy đau lòng, vì phải đối phó với những người bạn đã từng sống chết có nhau để tiêu diệt quân thù là Việt Cộng. Trong khi đó, có một đơn vị của Mỹ nằm ngay trong căn cứ Không Quân Biên Hòa là đơn vị 34th Tac. Group đang sử dụng T-28, là một loại phi cơ, nếu nói về đánh nhau trên không thì T-28 có khả năng xoay sở nhanh nhẹn hơn phi cơ A-1H nhiều. Nếu loại phi cơ này can thiệp vào vòng chiến thì thật sẽ làm chúng tôi khó xử hơn nữa.




Khi chúng tôi đến vùng Saigon và lấy hướng tìm đến Dinh Độc Lập, mắt quan sát xem các phi cơ của anh Quốc và anh NVC đang ở đâu, thấy trên vùng này, mây che khuất từ dưới lên đến 300 bộ, nghĩa là khoảng 100m trần mây, nghĩa là rất thấp để thi hành một vụ thả bom. Tuy trần mây không kín hẳn, có vài lỗ trống để có thể xuyên qua, vì loại mây gồm có loại mây "stratus" thấp nhưng không dầy đặc, nhưng tầm nhìn thì thật là quá giới hạn, chỉ thấy xa đàng trước chừng 10 dậm Anh. Khi chúng tôi tìm cách xâm nhập vào vùng để quan sát thì thấy Dinh Độc Lập đang cháy to ở cánh phía Bắc của dinh. Tuy không thấy đổ vỡ vì bom là bao nhiêu, nhưng lửa bốc ra từ các cửa sổ rất rõ rệt. Thình lình, nhiều tràng súng đại liên 12 ly 7 từ dưới đất bắn lên làm phi cơ chúng tôi lãnh tất cả 4 viên, trong số đó, có một viên xuyên phá hệ thống thủy điều làm chảy thủy điều. Chừng đó chúng tôi mới ngỡ ra rằng, dưới đất không thể phân biệt được chiếc nào là chiếc oanh tạc Dinh Độc Lập, chiếc nào như chúng tôi lên để giải tỏa phi tuần kia. Chúng tôi tuyệt đối không thấy bóng dáng phi cơ của các anh Quốc và NVC đâu cả, nên chúng tôi báo cáo và tìm đường thoát ra khỏi khu vực về hạ cánh. Từ Dinh Độc Lập lấy hướng khoảng 150 về hướng Đông Nam, chúng tôi bay sát đất, khoảng 50 bộ Anh, bay xuyên qua sông SaiGon khi một hàng rào lửa dầy đặc của đạn phòng không bắn lên lên từ các chiến hạm đậu trên sông này. Súng từ chiến hạm bắn lên rất nhiều loại, trong đó có loại đạn 40mm có thể hạ bất cứ phi cơ nào nếu bị trúng đạn. May thay, nhờ bay sát đất, nhờ thấy rõ hàng rào đạn lửa bay lên, nên chúng tôi đã tìm thấy lỗ để chui qua an toàn giữa hai chiến hạm. Sau khi thoát khỏi hàng rào lửa đạn đó chừng vài phút, chúng tôi lấy lại cao độ và về Biên Hòa hạ cánh với phương thức ra chân đáp khẩn cấp. Phi cơ của phi tuần viên chúng tôi không hề bị trúng đạn và đáp an toàn tại Biên Hòa.

Trong nghề bay của chúng ta, chúng ta có thể rút một vài kinh nghiệm như sau. Đài radar Paris nằm tại Tân Sơn Nhứt không thể quan sát được phi cơ bay quá gần trung tâm của đài, vì sóng radar chỉ quét được ra xa hơn khoảng 10 dậm. Nếu phi cơ bay thật thấp như trường hợp vừa nêu thì cũng khó mà tìm thấy được. Muốn bao vùng mà radar chỗ đó không thấy được thì phải có một radar khác phủ trùm lên chỗ tối đó. Radar Cần Thơ, đài Paddy, nằm ngoài 200 dậm cách Saigon, không thể phủ trùm lên khu vực Saigon nên không tiếp sức với đài Paris được. Vì vậy, tuy TTHQKQ biết được phi tuần của anh Quốc và NVC tấn công Dinh Độc Lập vì được Dinh Độc Lập báo tin bằng điện thoại, nhưng thật sự không biết họ đang ở đâu. Sau này, chúng ta biết được, ngay trong lúc anh NVC kêu gọi chúng tôi tấn công vào Dinh Độc Lập thì anh ấy đã trên đường bay qua Nam Vang rồi, mà radar của đài Paris cũng chưa biết vì anh bay quá thấp. Trong lúc đó thì anh Quốc đã đáp khẩn cấp xuống sông Saigon.

Có nhiều người cho rằng anh Quốc đã bị súng của chiến hạm bắn hạ, nhưng thật sự, anh Quốc bắt buộc hạ cánh xuống sông Saigon vì lý do khác. Có thể đơn vị bắt anh Quốc sau khi anh đã thoát chết đuối là một đơn vị người nhái.

Anh Quốc không hề thả một quả bom nào trên Dinh Độc Lập. Tất cả bom mà anh Quốc đã mang theo được thả an toàn trên sông Saigon trước khi anh đáp xuống nước. Thả bom an toàn là thả bom mà ngòi nổ còn gài chốt nên bom rời khỏi phi cơ, chìm xuống nước mà không nổ.




Sau khi phi cơ được vớt lên và mang về TSN, chúng tôi có dịp đến đó quan sát thì thấy phi cơ anh Quốc đã bị trúng tất cả 72 viên đạn 12 ly 7 bắn lên từ Dinh Độc Lập. Trong số 72 viên đạn đó, chỉ có một viên trúng vào chỗ nhược, canh van "xy lanh", vì thế, xăng trào ra trong lúc động cơ đang nóng bỏng làm động cơ phát hỏa. Máy đang cháy, anh Quốc liền thả hết bom xuống sông sau khi đã quyết định đáp khẩn cấp xuống nước là nơi an toàn nhất cho anh và cho dân chúng trong vùng. Anh giữ mui phi cơ đóng kín để tránh lửa tràn vào phòng lái. Vì thế, sau khi đáp xuống nước, và trong vài giây, phi cơ chìm hẳn xuống sâu, anh đã gặp nhiều khó khăn để mở mui để thoát ra khỏi phi cơ. Sau này, trong lúc bị giam tại nhà giam an ninh quân đội, anh có viết gửi về cho phi đoàn của anh một tài liệu nói về làm sao thoát hiễm dưới nước trên A-1H khi mui phi cơ còn đóng chặt. Tài liệu này dài khoảng 10 trang viết tay, đầy đủ chi tiết, làm sao mở mui ra, làm sao chui ra ngoài trong lúc gần ngợp thở....Thật là một tài liệu vô cùng quý giá cho những ai bay A-1H thời đó. Cơ quan an ninh đã chuyển tài liệu ấy về cho Phi Đoàn 514 để học tập. Về phần anh Quốc, anh đã bị giữ tại cơ quan an ninh quân đội để điều tra cho đến ngày 2 tháng 11 năm 1963, anh mới trở về đơn vị. Về lại Biên Hòa, Trung Úy Phạm Phú Quốc được đề cử giữ chức vụ chỉ huy trưởng đầu tiên của Phi Đoàn 518 đang được thành lập, sử dụng phi cơ A-1H. Một nhóm huấn luyện viên của Hải Quân Hoa Kỳ sang đơn vị này để huấn luyện đặc biệt về cách không hành trên mặt biển, theo kiểu dò tìm tàu lặn trong Hải Quân Mỹ, mà sau này, anh Quốc đã ứng dụng trong các phi vụ Bắc Phạt.

Cuộc thả bom Dinh Độc Lập năm 1962 là một hành vi chính trị do hai sĩ quan Không Quân VNCH thực hiện trong tiến trình chuyển hướng đường lối lãnh đạo tại miền Nam Việt Nam. Ai cũng có thể nhận biết được Mỹ muốn thay đổi chính sách, bắt miền Nam phải có một đường lối chính trị hoàn toàn theo Mỹ để có thể nhận viện trợ cần thiết cho công cuộc chống cộng của mình, dù trước khi đảo chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Diệm là người tích cực chống cộng, nhưng chống cộng theo kiểu riêng của ông, không phù hợp với chính sách của Mỹ thời bấy giờ. Nhân cơ hội này, chúng ta lại thấy rõ hơn quyết tâm chống cộng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm qua câu chuyện sau đây.

Ngay chiều ngày phi tuần của anh Quốc thả bom Dinh Độc Lập, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đích thân đến Biên Hòa, trong Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Thiếu Tá chỉ huy trưởng CC2TLKQ và chúng tôi đã tuần tự trình diện với Tổng Thống Ngô Đình Diệm để nghe hiểu thị. Chúng tôi sang trình diện tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh với quân phục đại lễ trắng. Tổng Thống gặp Thiếu Tá chỉ huy trưởng CC2TLKQ trước, và sau đó, tôi trình diện Tổng Thống. Đây là những giây phút hồi hộp nhất trong binh nghiệp của chúng tôi, cảm thấy mình đang có một gánh nặng to lớn đè nặng trên vai mà sức người khó có thể chịu đựng nỗi. Lúc đó, chúng tôi chưa đầy 30 tuổi, đã có vợ và hai con. Đây là lần thứ ba tôi nhìn thấy Tổng Thống. Lần thứ nhất, ông đã đến dự lễ thành lập phi đoàn vào năm 1961. Lần khác, Tổng Thống đã đến phi trường Biên Hòa triệu tập tất cả sĩ quan mặc quân phục trắng ngồi nghe Tổng Thống ban hiểu thị ngay ngoài sân tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, và đêm hôm đó, Tổng Thống đã ngủ lại trong một 'trailer" đặt trên sân đậu phi cơ trước hangar của Công Xưởng Không Quân. Hai lần gần gũi đó cho thấy Tổng Thống đã rất để tâm đến đơn vị Không Quân này, Phi Đoàn 514, một phi đoàn khu trục nổi tiếng từ Bắc chí Nam trong cuộc chiến chống cộng mà ông hạ quyết tâm. Tôi cảm thấy sự thất vọng của Tổng Thống trong chuyến xuất hành này vô cùng to lớn, nhưng cũng nhận thấy được Tổng Thống vẫn rất tha thiết ân cần đến đơn vị chúng tôi, vì nếu không thì Tổng Thống đâu cần phải đích thân xuống đây mà chỉ cần ban chỉ thị trừng phạt nếu ông muốn.

Chúng tôi được đưa vào một phòng trang trí đơn giản, không to lắm, không nhỏ lắm. Trong phòng có một bộ bàn ghế bằng gỏ đỏ với bốn ghế ngồi đặt ngay chính giữa, trên một tấm thảm màu sắc nhu nhả. Ngay trên bàn, có một bình bông nhỏ, một đồ gạt tàn thuốc lá, bên cạnh có một đĩa nhỏ đựng một bao thuốc lá hiệu "Grand Prix" do Việt Nam sản xuất. Bao thuốc được mở sẵn nhưng khép lại để bên cạnh một bao diêm cũng do Việt Nam chế tạo. Dường như Tổng Thống rất hãnh diện dùng những thứ mà nước mình sản xuất thay vì dùng những thứ như thuốc lá ba số 5, hay Players, hay Craven "A", hay Lucky, Salem...Chúng tôi ngồi đó một mình để ngẩn ngơ với nhiều suy nghĩ mông lung. Ngoài cửa, có một lính canh của Phủ Tổng Thống đứng gác nghiêm chỉnh. Không lâu sau, có tiếng bắt súng chào, và Tổng Thống nhanh nhẹn bước vào trong bộ y phục trắng. Khi đến gần chúng tôi, ông chỉ thị cho tôi ngồi xuống đối diện với ông. Ông mở thuốc lá lấy một điếu và chăm lửa hút, nhưng chỉ hút không được nửa điếu là ông dụi thuốc tắt ngay.


Tr/u Phi công Nguyễn văn Cử bay thẳng sang Cam Bốt xin tỵ nạn sau chuyến bay bỏ bom Dinh Độc Lập

Tổng Thống nhỏ nhẹ nói với tôi:"Anh nói với tôi như nói với một ngọn đèn". Cố ý làm cho tôi thoải mái, đừng quá sợ sệt để có thể nói thật lòng. Còn tôi thì cẩn thận nghe kỹ xem Tổng Thống nói gì, và cố đọc được tâm tư của ông. Nhưng chỉ có ông nói. Ông bắt đầu câu chuyện nói về ông NVL, thân sinh của anh NVC. Ông nói ông đã giúp đỡ ông NVL nhiều thứ, nhưng ông NVL không chịu hiểu Tổng Thống. Tôi không hề biết ông muốn nói gì, ngoài ý là ông NVL không chịu thông cảm với ông, đã liên tục phản bội ông. Chẳng khi nào Tổng Thống đề cập đến anh Phạm Phú Quốc. Không có câu nào nêu tên anh Quốc. Điều đó cho thấy, theo Tổng Thống, vụ thả bom hồi sáng là do anh NVC mà ra, không liên can gì đến anh Quốc. Vì anh NVC có gia đình tích cực làm chính trị và có ý phản kháng lại chính sách của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Rồi sau đó, Tổng Thống hỏi tôi về hoạt động của Phi Đoàn 514, về nhân sự trong phi đoàn, và về tinh thần phục vụ của nhân viên trong phi đoàn. Tôi đã xác nhận với Tổng Thống hai điều trong tầm tay của tôi. Đó là tinh thần chống cộng triệt để của anh em trong phi đoàn. Hai là khả năng hành quân của mọi nhân viên. Khi đề cập đến những khó khăn trong đơn vị, tôi cũng xác nhận hai điều.

a. Một là tình trạng tài chánh của anh em rất eo hẹp khi phải hoạt động nhiều nơi cùng lúc, ám chỉ công tác biệt phái nhiều mà không đủ phụ cấp vãng phản, nên khó sống với tình trạng "một cảnh hai quê". Tiền lương lãnh được phải nuôi gia đình, còn đâu tiền để tự nuôi sống khi biệt phái hành quân. Cảnh khó khăn về tài chánh đó đã được chúng tôi gánh chung hằng tháng, thiết rồi cả sĩ quan và hạ sĩ quan cũng chỉ ăn "cơm tay cầm" (bánh mì xì dầu) khi công tác ngoài đơn vị. Tình trạng eo hẹp kéo dài sẽ nguy hại đến tinh thần chiến đấu của quân sĩ.

b. Hai là, ngoài công việc huấn luyện đào tạo chuyên môn về bay hay về sửa chữa máy bay, chúng tôi không có khả năng biết được xu hướng chính trị từng người, mà đó là công việc của ngành an ninh quân đội.

Chúng tôi hoàn toàn nhận lỗi trước hành động vô kỷ luật của anh Quốc và anh NVC vì hai anh ấy là nhân viên trực thuộc đơn vị chúng tôi, tức nhiên cấp chỉ huy đơn vị phải nhận lãnh trước tiên mọi hình phạt vì liên đới chịu trách nhiệm. Chỉ mong Tổng Thống ra sức giúp đỡ phương tiện để đơn vị có thể hoạt động tốt hơn trong tương lai.

Tổng Thống khuyên tôi phải cố gắng chỉ huy cho tốt để tiếp tục ra sức đóng góp tích cực vào công cuộc chống cộng chung. Ông còn nói thẳng ra rằng, người Mỹ đã muốn đổ quân vào Việt Nam để tham chiến, nhưng ông khẳng định không muốn cho người Mỹ tham chiến vì sẽ làm mất đi chính nghĩa đấu tranh của chúng ta. Ông bảo, dù một người lính Mỹ nhập vào cù lao Ré, ông cũng không bằng lòng, huống hồ là để cả nhiều đơn vị lính Mỹ chiến đấu trên đất nước ta. Tổng Thống còn nhấn mạnh đến tương lai có thể bị cắt viện trợ. Ông ra lệnh tôi phải cố gắng chịu đựng trong khó khăn thiếu thốn quân dụng trong một năm, phải cố duy trì hoạt động được trong một năm dù bị cắt viện trợ quân sự. Sau này, chúng ta có thể xác nhận ý muốn duy trì chống cộng dù bị Mỹ cắt viện trợ, qua những sự chuẩn bị để đối phó như: thiết lập nhà máy đúc đạn tại Cát Lái; trồng cây lấy gổ Teck làm bá súng tại Xuân Lộc mà những ai có ở tù tại trại giam Z30A đều biết dưới tên "rừng bà Nhu".

Chúng tôi nhận thông điệp này rất rõ. Sau đó thì Tổng Thống đi nhanh nhẹn ra khỏi phòng. Tôi bước ra khỏi phòng chừng 15 bước sau. Khi tôi đến cửa và bước ra ngoài chừng hai bước thì nghe tiếng anh lính gác bảo:" Đại Úy mà xấc!" Khi đó làm tôi nghĩ lại, trong lúc đối thoại với Tổng Thống, tôi chẳng khi nào gọi ông bằng "Cụ" mà luôn luôn là Tổng Thống, và tự xưng mình là "tôi" thay vì bằng "con" như nhiều người thường làm. Nhưng tôi thật sự không sợ hãi mà cũng không quan ngại đến lời phê phán của anh lính gác của Thành Cộng Hòa. Vì đó là cái tôi chân thật, không màu mè, không bợ đỡ, không đòi hỏi dù một sự tha thứ vì mình có tội thì cứ nhận tội, có gì phải bợ đỡ, phải lo âu, rụt rè. Ít nhất cũng phải chịu cách chức, hay giáng cấp, hay đuổi khỏi quân chủng....và nhiều điều bất lợi khác xảy đến như những hệ quả đương nhiên.

Chắc ai cũng lo cho những gì sẽ xảy ra sau vụ dội bom Dinh Độc Lập của anh Phạm Phú Quốc và anh NVC. Những biện pháp được áp dụng sau đó, đối với quân đội nói riêng và đối với cuộc chiến nói chung rất là sai lầm. Sai lầm vì làm cho những người chiến đấu ngoài trận mạc thiếu đi sự yểm trợ hỏa lực hữu hiệu của Phi Đoàn 514. Câu chuyện được tiến hành như sau.

a. Đối với Phi Đoàn 514, những chuyến bay về hướng miền Tây phải xuyên qua một điểm chuẩn là Nhà Bè, hay đi về miền Bắc Saigon thì phải qua điểm Lái Thiêu. Tuyệt đối không thể đi tắt, vì phi lộ sẽ xuyên qua khu vực Saigon. Radar có thể kiểm soát các phi lộ đó để báo động kịp thời cho Dinh Độc Lập nếu có máy bay nào vi phạm.

b. Phòng Hành Quân Phi Đoàn 514 phải thông báo cho Ban An Ninh CC2TLKQ mọi phi lệnh hành quân hay huấn luyện gồm đầy đủ tên họ hoa tiêu, số phi cơ mà hoa tiêu đó bay, để tránh có người ăn cắp máy bay.

c. Ban An Ninh CC2TLKQ đóng tất cả lối ra phi đạo bằng kẻm gai, và chỉ mở cổng ra sau khi xác nhận người và phi cơ đều đúng theo phi lệnh đã phổ biến cho Ban An Ninh, dù hoa tiêu bay chuyến đó là chỉ huy trưởng phi đoàn, chỉ huy phó phi đoàn, hay trưởng phòng hành quân phi đoàn, là ba giới chức có quyền ký phi lệnh. Sau khi anh Quốc bị nhốt tại cơ quan an ninh quân đội, Phi Đoàn 514 đề cử Trung Úy HMĐ thay thế trong chức vụ Trưởng Phòng Hành Quân.

d. Tất cả phi cơ A-1H thuộc Phi Đoàn 514 chỉ được trang bị hành quân với súng mà thôi. Tuyệt đối không được trang bị bom hay hỏa tiển. Biện pháp này chỉ làm lợi cho cộng sản, nhưng bộ phận khỏe nhất là Ban Vũ Khí của phi đoàn, từ đó chỉ cần nạp đạn lên bốn súng đại bác 20 ly, không còn phải vác những quả bom nặng đến 250 kg, hay ráp các hỏa pháo dễ làm đứt tay như bom chùm (frag cluster bomb).

Thế mà đơn vị cũng tiếp tục lập công lớn, như trong trận Mé láng đã với súng mà bắt cả trăm VC phải dơ súng đầu hàng vì bị ví trong một thửa ruộng không làm sao thoát thân được. Và cả trăm VC chết trên dòng sông vì bị tấn công khi họ tẩu thoát trên ba chiếc ghe máy, mỗi ghe chở cả 50 người. Những chiến công đó tiếp tục giúp cho Phi Đoàn 514 dành được mỗi năm một Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu trong các năm 1962 và 1963. Để rồi, ba năm sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, Phi Đoàn vẫn lãnh chiến công vượt trội, được mang Giây Biểu Chương Màu Bảo Quốc Huân Chương, thêm vào hai lần được Tổng Thống Hoa Kỳ trao tặng "President Unit Citation".

Ngoài những biện pháp an ninh vô dụng và rất có hại cho chiến tranh, cơ quan an ninh quân đội còn can thiệp ở cấp cao để chạy tội, cho rằng sở dĩ có những hành động phản bội như vụ dội bom Dinh Độc Lập là do cấp chỉ huy phi đoàn quá cứng rắng, quá khó khăn đối với thuộc hạ. Điều đó cũng được các tướng lãnh cho rằng, "cấp chỉ huy phải đòi hỏi tối đa ở thuộc hạ". Nhờ vậy nên cơ quan an ninh không tác oai tác oái được.

VNCH là một nước non trẻ, nhưng muốn lớn lên, muốn trưởng thành thì bị bóp chết. Sau khi hạ bệ được Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong năm 1963, mãi cho đến năm 1967, nghĩa là bốn năm sau, mới có một hiến pháp mới, một tổng thống mới. Còn từ 1-11-1963 cho đến 1967, không biết các đảng phái chính trị của VN đã làm gì mà không tìm được một lối thoát cho mình? Không bầu ra được một vị lãnh đạo mà mọi người dân tôn trọng chấp nhận?




Sau khi bị bắt, Phạm Phú Quốc dù phải bị giam, nhưng được đối đãi tử tế; song đã có rất nhiều tin đồn, cộng thêm với một số tờ báo bất lương nên đã tuyên truyền rằng:

“Phạm Phú Quốc đã bị hành hạ, tra tấn, đánh đập suốt cả ngày lẫn đêm, không cho ăn, không cho ngủ, đã bị mật vụ dùng kìm rút hết mười móng tay và mười móng chân…”

Chính vì thế, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã phái Sĩ quan tùy viên Lê Châu Lộc, đến tận nơi gặp ông Phạm Phú Quốc, để nhìn thấy tận mắt trên thân thể, cũng như xem mười chiếc móng tay và mười chiếc móng chân của ông Phạm Phú Quốc có bị rút hết hay không?

Tuân lệnh của Thổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Lê Châu Lộc đã đi đến tận nơi để gặp ông Phạm Phú Quốc.

Khi giáp mặt ông Phạm Phú Quốc ông Lê Châu Lộc đã tự giới thiệu:

“Tôi Đại úy Lê Châu Lộc, Sĩ quan tùy viên của Tổng Thống, được lệnh của Tổng Thống đến đây để gặp ông”.

Ông Phạm Phú Quốc, hình như không thể tin những lời của ông Lê Châu Lộc, nên vội đứng lên một cách nghiêm chỉnh. Nhưng ông Lê Châu Lộc đã nói tiếp:

“Tôi Đại úy Lê Châu Lộc Sĩ quan tùy viên của Tổng Thống, được lệnh của Thổng Thống đến đây để gặp ông; nhưng không phải để điều tra về ông, mà Tổng Thống bảo tôi đến đây để thăm ông. Vậy, tôi chỉ muốn hỏi ông: Ông có bị ai đánh đập, tra tấn hay không, để tôi về trình lại cho Tổng Thống hay về những gì tôi đã mắt thấy, tai nghe, chứ tôi không hề tra vấn ông bất cứ một điều gì cả?
- Dạ không.
- Ông có bị tra vấn không cho ngủ, không cho ăn hay không?
- Dạ không.
- Như vậy, xin ông vui lòng cởi bỏ y phục, cho tôi nhìn tận mắt, để biết trên thân thể của ông có bị thương tích gì không.

Và ông Phạm Phú Quốc đã làm theo yêu cầu của tôi, vì thế, tôi đã nhìn thấy toàn thân thể của ông Phạm Phú Quốc không hề có một vết tích nào gọi là “tra tấn” cả. Nhưng ông vẫn hỏi tiếp:

- Ông có bị rút hết mười cái móng tay và mười cái móng chân hay không?
- Dạ không.
- Vậy, ông hãy bỏ hai bàn tay của ông lên bàn tay của tôi, để cho tôi nhìn thấy, rồi sau đó, là mười ngón chân của ông.
- Dạ, xin Đại úy hãy nhìn xem.

Sau khi nhìn và sờ lên tay chân của ông Phạm Phú Quốc, tôi không hề thấy có một chút vết tích gì hết, ông Phạm Phú Quốc vẫn khỏe mạnh bình thường, rồi bỗng ông Phạm Phú Quốc đã nói:

- Tôi xin Đại úy trình lên Tổng Thống rằng: tôi thành thật xin lỗi Tổng Thống, vì tôi đã nghe lời của người bạn, nên đã làm như vậy; chứ tôi không có chủ ý giết Tổng Thống. Và ông Phạm Phú Quốc đã viết những lời xin lỗi Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trên một mảnh giấy nhỏ, và nhờ trình lên Tổng Thống.

- Tôi sẽ trình lại với Tổng Thống.” (Nam Nhân-Quân nhân QLVNCH)

Người viết bài này thật không muốn thế hệ mai sau nghĩ sai lầm về con người của Phạm Phú Quốc. Tuy rằng chính tôi đã cất nhắc cho anh Quốc thăng cấp Trung Úy Đặc Cách để có thể để anh lãnh chức vụ Trưởng Phòng Hành Quân của Phi Đoàn 514, vì trong phi đoàn, vào năm 1960, có nhiều Trung Úy khác chưa xác định hành quân với tư cách phi tuần viên. Anh Quốc có tinh thần phục vụ rất cao. Anh có gia đình từ lâu làm chính trị. Anh không thể bị VC lợi dụng để hành động theo ý muốn của chúng. Vụ ném bom Dinh Độc Lập ngày 27 tháng 2 năm 1962 không giống như vụ ném bom Dinh Độc Lập trong tháng 4 năm 1975 của Nguyễn Thành Trung, vì Nguyễn Thành Trung là một VC nằm vùng. Nếu như VC, ta coi vụ ném bom Dinh Độc Lập của Phạm Phú Quốc là một hành động anh hùng thì thật là oan uổng cho tinh thần Phạm Phú Quốc. Đó là điều duy nhất tôi muốn xác nhận cùng các bạn Không Quân của tôi, đừng để bị địch cố tình xuyên tạc.

Gman
12-2006
__________________

Tài Liệu tham khảo

1. Phạm Phú Quốc trích từ cuốn Quân Sử KQVNCH do Liên Hội Ái Hữu Không Quân Úc Châu thực hiện.
2. Hình ảnh do phóng viên báo chí chụp được trong khi oanh tạc Dinh Độc Lập năm 1962.
3. Phi Đoàn 514, đăng trên trang nhà bgkq.net, trong chương Hồi Ký

Last edited by alamit; 30-01-2013 at 07:40 AM.

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2016

HỌC THUYẾT DOMINO TRONG CHIẾN TRANH VN


Cuộc chiến VN cần phải được nghiên cứu và tìm hiểu cẩn thận để phân tích và ghi lại cho hàng ngũ hậu duệ VNCH làm hành trang trong nhu cầu phục vụ đất nước và dân tộc bằng chính sức mạnh của mình trong tương lai, một khi đất nước hoàn toàn tự do và dân chủ.
Muốn hiểu được tường tận và chính xác nguyên nhân và kết quả cuả cuộc chiến tại Việt Nam vừa qua thì chúng ta phải nhìn vào toàn diện cuộc chiến, chúng ta sẽ thấy rằng mọi biến cố, mọi diễn tiến của cuộc chiến đã xẩy ra có lớp lang bài bản để đưa tới ngày 30 tháng 4 năm 1975. Một khi hiểu ra được, chúng ta sẽ có được những bài học quý giá cần yếu cho việc dựng nước trong tương lai bằng tinh thần tự quyết dân tộc.
Khởi nguồn của cuộc chiến ở VN là từ cái nhìn chệch hường của giới chính trị Mỹ về thuyết Domino. Vào thời điểm trước và sau thế chiến thứ hai, khi Hitler bắt đầu đánh chiếm các nước lân bang rồi đến hình ảnh của Stalin mở rộng đế quốc cộng sản ra khắp nơi ở Đông Âu sau thế chiến thư hai, đưa Mỹ vào một chặn đường mới trong việc điều hòa trật tự thế giới và quyền lợi của mình. Do đó vì nhu cầu bảo vệ quyền lợi của mình trước sự bành trướng của các thế lực đỏ chính sách ngoại giao của Mỹ đã thay đổi để tìm cách ngăn chận hữu hiệu sự lấn áp của chủ nghĩa cộng sản trong thời kỳ sau thế chiến thứ II, cho đến khi các nước Chủ nghĩa cộng sản bị sụp đổ vào năm 1990. Một học thuyết mà chính giới áp dụng là " thuyết Domino". Thật ra Domino là lý thuyết chỉ đạo chính sách ngoại giao Mỹ bắt đầu trong thời chiến tranh lạnh cho rằng một nước bị Cộng Sản chiếm các nước lân bang sẽ bị mất theo. Người đầu tiên dùng chính sách này là Tổng thống Truman từ năm 1947, các tổng thống kế tiếp Eisenhower, Kennedy, Johnson… cũng nhắc tới thuyết Domino để biện minh cho việc can thiệp của họ vào Đông Nam Á nhất là chiến tranh Việt Nam.
Sau thế chiến thứ hai, bắt đầu cho thời chiến tranh lạnh của Mỹ và Nga. Staline con người tàn bạo khét tiếng, y nắm quyền cai quản Liên Xô và Đông Âu, là con người nguy hiểm hơn Hitler vì uy quyền nhiều hơn với một đế quốc cộng sản rộng lớn hơn. Đến năm 1949 Nga có bom nguyên tử, Trung Cộng chiếm được nước Tầu đã làm lệch hẳn cán cân giữa Thế giới tự do và khối CS. Chính giới Mỹ bắt đầu lo sợ hiểm họa CS, năm 1947 Dean Acheson Bộ trưởng ngoại giao của Truman khuyên quốc hội trợ giúp Hy Lạp vì sợ CS chiếm và đã được quốc hội nghe theo. Người ta ví như một quả táo thối có thể làm hư nguyên một thùng, mất Hy Lạp có thể đưa tới mất Iran và các nước Trung Đông và dần dần tới châu Phi qua Ai Cập và Âu châu, Ý, Pháp, ở đây đảng CS đã hoạt động mạnh.
DOMINO CHO ĐÔNG DƯƠNG
Năm 1954, Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower đã bắt đầu áp dụng học thuyết quan trọng giai đoạn Chiến tranh Lạnh, đó là “Học thuyết Domino”, ông cho rằng nếu để cho vùng Đông Dương của Pháp thất thủ trước chủ nghĩa Cộng sản sẽ tạo nên một hiệu ứng “Domino” (phản ứng dây chuyền) lên toàn Đông Nam Á. “Học thuyết Domino” này dẩn đạo trong mọi cách nhìn của chính giới Mỹ đối với cuộc chiến Việt Nam trong suốt những năm kế tiếp.
Đầu năm 1954, người Mỹ đã thấy rõ sự thất bại trong tham vọng tái thuộc địa hóa Đông Dương của người Pháp, sau khi họ mất quyền kiểm soát khu vực vào tay Nhật Bản trong Thế chiến II, các cường quốc trên thế giới đã lên kế hoạch họp mặt tại Geneva để bàn bạc một thỏa thuận chính trị về cuộc chiến tại Đông Dương và Việt Nam. Các quan chức Mỹ đã lo ngại rằng một khi miền bắc dưới sự lãnh đạo của Hồ chí Minh, sẽ mở đường cho một chính quyền theo chủ nghĩa cộng sản nắm quyền kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Nhằm lôi kéo sự ủng hộ của Quốc hội và công chúng Mỹ tăng mức viện trợ cho quân Pháp, tổng thống Eisenhower đã tiến hành buổi họp báo lịch sử vào ngày 07/04/1954. Ông đã dành phần lớn thời gian của bài diễn văn để diễn giải về tầm quan trọng của Việt Nam đối với nước Mỹ....Cuối cùng, Tổng thống Mỹ nhấn mạnh về hiệu ứng trong nguyên tắc sụp đổ kiểu Domino”. Ông giải thích thêm, “khi có một chuỗi các quân bài Domino được xếp sẵn, nếu đánh ngã quân cờ đầu tiên, thì ảnh hưởng tới quân cờ cuối cùng là không thể tránh khỏi, và quá trình này sẻ diễn ra vô cùng nhanh chóng”. Và kết quả của Domino sẻ dẫn đến sự tan rã toàn bộ các nước tự do khác trong vùng Đông Nam Á, “lần lượt là Đông Dương, Miến Điện, Thái Lan, bán đảo Mã Lai và Indonesia sẽ bị mất”. Tổng Thống Eisenhower còn cho rằng, ngay cả Nhật Bản cũng sẽ bị đe dọa khi quốc gia này cần Đông Nam Á vì mục đích thương mại.
DOMINO TRONG CUỘC CHIẾN VN
Hoa Kỳ đã gián tiếp can thiệp vào cuộc chiến chống lại sự bành trướng của Cộng Sản tại Đông Dương từ đầu thập niên 50. Sau khi Trung Cộng đã nuốt trọn nước Tầu năm 1949, và họ bắt đầu viện trợ quân sự ồ ạt cho Việt Minh tại biên giới Việt Hoa. Chính phủ Mỹ vội viện trợ cho Pháp đánh Việt Minh, cho tới 1954 chi phí chiến tranh tại Đông Dương phần lớn do Mỹ gánh chịu (78%.The Pentagon Papers Volum 1, Chapter).
Thập niên 50, 60 thuyết địa lý chính trị cho Việt Nam là cái trục tại Đông Nam Á, nếu Nam Việt Nam bị mất về tay Cộng sản thì các nước tự do khác ở Đông Nam Á như Lào, Miên, Thái Lan… và ngay cả Đại Hàn, Đài Loan, Miến Điện, Ấn Độ cũng sẽ mất về tay Cộng Sản.
Năm 1955 quân Pháp rút về nước, Người Mỹ trợ giúp tích cực chính phủ miền Nam Việt Nam để thành lập tiền đốn chống Cộng tại Đông Nam Á. Theo cách nhìn cuộc chiến VN bằng học thuyết " Domino" nên chính giới Mỹ đã nâng cao tầm ảnh hưởng của mình lên quân bài Domino quan trọng đó là miền Nam VN. Một quân bài chủ động trong việc ngăn chận sức tiến của chủ nghĩa cộng sản. Cũng từ đó, VNCH đã quân bài Domino quan trọng của Mỹ tại vùng Đông Nam Á.
Vào những năm cuối thập niên 50, khi Cộng Sản Hà Nội bắt đầu phát động chiến tranh du kích xâm lược tại đồng bằng miền Nam. Đến đầu thập niên 60 chiến tranh ngày càng mở rộng, nên việc trực tiếp nhúng tay vào miền nam đã làm cho Mỹ phải thanh toán nền đệ nhất cộng hoà, để họ có thể đưa quân can thiệp trực tiếp vào miền nam VN và nắm lấy thế chủ động cũng như đưa ra những quyết định chủ đạo cho QL.VNCH. Từ năm 1964, sau khi nền đệ nhất Cộng Hoà sụp đổ, lợi dụng tình hình chinh trị miền Nam bất ổn, Cộng Sản đã gia tắng xâm nhập và mở những trận đánh lớn, qui mô hơn khiến cho Việt nam đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của Hoa Kỳ. Ngày 2-8-1964 vụ tầu Maddox bị ba tầu phóng ngư lôi Bắc Việt tấn công, Quốc hội Mỹ ra luật Gulf of Tonkin Resolution với đa số phiếu ủng hộ Tổng thống Johnson trong chiến tranh Việt Nam. Không quân Mỹ được lệnh oanh tạc trả đũa miền Bắc phía trên vĩ tuyến 17, người Mỹ bắt đầu nắm quyền trực tiếp can thiệp vào chiến tranh Việt Nam.
Lực lượng của những bên vào lúc cao điểm của cuộc chiến:
Hoa Kỳ 536,100 người
VNCH: Hơn một triệu quân kể cả chính qui và địa phương quân, lính nhà nghề vào khoảng 200,000 người
Bắc Việt : Ước lượng khoảng gần 300 ngàn người.
Mặt Trận Giải Phóng: Trước Mậu thân 1968 có khoảng 80 ngàn, sau trận Mậu Thân 1968 chỉ còn khoảng 20 ngàn người.

THỜI KỲ CAO ĐIỂM CỦA DOMINO
Sự can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa kỳ vào Việt Nam thực sự bắt đầu từ tháng 8-1964 cho tới ngày ký Hiệp định Paris tháng 3-1973, có hai giai đoạn rõ rệt từ 1964-1968 dưới thời Tổng thống Johnson và từ 1969-1974 dưới nhiệm kỳ cùa Tổng thống Nixon.
Giai đoạn 1964-1968. Năm 1965 là thời kỳ cao điểm của thuyết Domino chủ trương nếu mất Đông Dương sẽ mất cả Đông Nam Á như trong ván cờ domino.Tình hình miền Nam VN năm 1965 rất nguy kịch, trung bình một tuần mất một quận và một tiểu đoàn. Theo thăm dò của Viện Harris đa số người Mỹ (78%), lưỡng viện Quốc hội hoàn toàn ủng hộ chính phủ can thiệp vào Đông Dương. Johnson không còn đường nào hơn là đổ quân vào để cứu VNCH. Sau này năm 1969 Tướng Wesmoreland có nói nếu Mỹ không đổ quân vào Đà Nẵng năm 1965 thì VNCH sẽ mất trong sáu tháng.
Kề hoạch chiến tranh giới hạn của Tổng thống Johnson chỉ cho lùng diệt địch tại miền Nam, không cho đánh vào hậu cần CSBV bên kia biên giới Mên, Lào. phòng thủ mà không tấn công. Johnson cho oanh tạc BV từ 1964 ngày càng leo thang nhưng vẫn hạn chế mục tiêu, mục đích chỉ là để hăm dọa BV để họ phải đàm phán nghiêm chỉnh.
Sau này Tổng thống Nixon chỉ trích sự sai lầm của Johnson trong kế hoạch chiến tranh hạn chế không khuất phục được Bắc Việt từ bỏ âm mưu thôn tính miền Nam, nó chỉ kéo dài chiến tranh khiến cho phong trào chống đối lên cao và tạo thời cơ cho Cộng sản đạt thắng lợi. Số thiệt hại nhân mạng của Mỹ tăng dần, năm 1965 có 1,863 lính Mỹ chết tại miền nam (kể cả những người chết trận cũng như những lý do khác), năm 1966 tăng lên 6,143 người, năm 1967 lên 11,153 người , năm 1968 lên 16,592 người, từ 1965 tới 1968 có tất cả 35,751 người thiệt mạng. Bên cạnh số lính Mỹ tử trận gia tăng, lại được truyền thông Mỹ thổi phồng quá đáng khiến phong trào phản chiến ngày càng quyết liệt hơn.
Sau trận Mậu Thân 1968 phong trào phản chiến trở nên dữ dội, tỷ lệ ủng hộ tụt thang nhanh chóng, người dân cho rằng chính phủ không thể thắng được cuộc chiến này, tỷ lệ chống chiến tranh lên cao đòi chính phủ rút quân về nước bỏ Đông Dương. Người Mỹ đã quá mệt mỏi vì cuộc chiến kéo dài không dứt.
GIAI ĐOẠN THỐI LUI 1969-1973
Nixon lên nhậm chức Tổng thống đầu năm 1969 khi gió đã đổi chiều, giai đoạn trước từ 1965-1968 Johnson được cử tri, Quốc hội ủng hộ đưa quân ồ ạt vào VN chống CS và giai đoạn sau từ 1969-1973, Nixon phải đem quân về nước, phục hồi hòa bình như đã hứa khi tranh cử.
Nixon gặp khó khăn vô cùng, không được nhiều thuận lợi như thời Johnson, ông đã lãnh đủ, thừa hưởng gia tài đổ nát do cặp Johnson-McNamara để lại. Nixon và Ngoại trưởng Kissinge dùng hết các nổ lực của mình để đạt cho được việc rút quân Mỹ về nước bằng mọi gía.
Ngày 18-3-1970 Thủ tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk và cho tấn công các lực lượng CS tại Miên, địch phản công dữ dội, tình hình quân sự tại đây rất đen tối. VNCH được Hoa Kỳ yểm trợ đã mở cuộc hành quân sang Miên ngày 13-4-1970 để phá hủy các căn cứ hậu cần an toàn của BV nơi xuất phát những cuộc tấn công VNCH.
Cuộc hành quân sang Kampuchia từ 29-4-1970 tới 22 -7-1970 đã đánh bại và ruồng bố được khoảng 40,000 quân CS, giết trên 10 ngàn cán binh, tịch thu được 22,890 vũ khí cá nhân, 2,500 vũ khí cộng đồng, phá hủy nhiều cơ sở quân sự, làm suy yếu áp lực địch tại miền Nam VN.
Mục đích cuộc hành quân để đánh vào hậu cần CSBV ngõ hầu Hoa Kỳ có thể rút quân về nước thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh. Cuộc hành quân bị chống đối dữ dội, tính tới cuối tháng 5, khoảng 57% các đại học xá Mỹ tham gia biểu tình chống chiến tranh VN. Bạo động, đốt nhà, quân đội sô sát với sinh viên dữ dội.
Tháng 1-1971 Nixon ban lệnh hành quân cắt đường mòn Hồ Chí Minh, vì bị Quốc hội ngăn cản không cho chính phủ đưa quân Mỹ sang Lào, Nixon giúp Quân đội VNCH mở cuộc hành quân. Mỹ giúp chuyên chở và yểm trợ phi pháo, quân đội VNCH tiến sâu khoảng 20 dặm vào đất Lào theo đường số 9 để chiếm tỉnh Tchépon, nơi tập trung các tuyến đường xâm nhập của CSBV, kế tiếp tiến sâu hơn vào vùng xung quanh để phá hủy các cơ sở CS. Cuộc hành quân lấy tên Lam Sơn bắt đầu ngày 8-2-1971, Quân đội miền Nam chiến đấu anh dũng và hữu hiệu. Lực lượng gồm Sư đoàn 1 BB, Sư đoàn Dù, Liên đoàn 1 Biệt động quân và Lữ đoàn 1 Kỵ binh, Sư đoàn TQLC là lực lượng trừ bị, quân số lúc nhiều nhất là 17,000 người. BV phản công mạnh hơn ta tưởng rất nhiều.
Cuộc hành quân Lam Sơn chỉ thành công trong giai đoạn đầu, phá hủy được 405 xe vận tải, 106 chiến xa và nhiều kho quân trang, quân dụng, tiếp liệu, VNCH chiếm được Tchépon nhưng không giữ được lâu dài, phải tháo lui khi bị BV đưa lực lượng đông đảo tấn công. Nhìn chung hai bên đều bị thiệt hại nặng. Phía Mỹ có hơn 200 người chết và mất tích, VNCH hơn 2000 người chết và mất tích, BV khoảng hơn 10,000 người bị giết.
Ngày 30-3-1972, BV đem 10 sư đoàn chính qui cùng với xe tăng đại bác tấn công đại qui mô miền Nam. Họ tập trung ba Sư đoàn bộ binh, 200 xe tăng T-54, nhiều đại bác 130 ly vượt qua khu phi quân sự, nhiều đơn vị khác theo đường số 9 Hạ Lào hướng về Huế, hai Sư đoàn tiến về Kontum, ba Sư đoàn từ Miên tiến đánh Bình Long.
CSBV tiến nhanh và chiếm ưu thế ngay, Quảng trị mất cuối tháng tư 1972, An Lộc bị bao vây ngày 13-4, ngày 23-4 Kontum bị tấn công. Dân chúng chạy loạn bị Cộng quân pháo kích chết la liệt trên quốc lộ 1. TT Nixon cho oanh tạc phía trên vĩ tuyến 17 và tập trung hải lục không quân yểm trợ VNCH.

Ngày 8-5-1972 Nixon lên truyền hình, sau khi đã thông báo về cuộc tấn công xâm lược của BV, Hoa Kỳ muốn đàm phán nhưng BV không nghiêm chỉnh, ông sẽ ngăn chận cuộc tấn công xâm lăng của địch. Khi ấy phong trào phản chiến và truyền thông chống đối Nixon dữ dội, một tờ báo cho đây là canh bạc tuyệt vọng.
VNCH thắng thế CSBV tháng 5 -1972, BV đánh qui ước, lộ mục tiêu làm mồi cho B-52 và không quân VNCH. Nixon khẳng định muốn xử dụng vũ lực và sẵn sàng chấp nhận hậu quả của nó, ông đã dùng hỏa lực vũ bão đánh BV và đạt kết quả mỹ mãn. Nixon trưng dụng tối đa các chiến hạm của Đệ Thất hạm đội, hơn 400 pháo đài bay B-52 và khu trục cơ F-4 để oanh kích cả hai chiến trường Nam Bắc
Trong tháng 11-1972 Hải quân Mỹ đã pháo 16,000 tấn đạn xuống phía dưới khu phi quân sự và ném 155,000 tấn bom xuống miền Bắc, vì CSBV dàn quân đánh qui ước nên Mỹ đã xử dụng tối đa ưu thế của không quân để đè bẹp họ. Cảng Hải phòng một năm tiếp nhận 2.1 triệu tấn hàng gồm 85% quân dụng, vũ khí và 100% dầu, nhiên liệu, khi bị Hoa kỳ phong tỏa thì không một chiếc tầu nào ra vào hải cảng được, cuộc tấn công của địch bị khựng lại.
Tháng 6-1972, QLVNCH bắt đầu phản công, tại An Lộc các đơn vị trú phòng sau hơn hai tháng bị Cộng quân bao vây pháo kích tàn bạo, nay được sự yểm trợ của không quân Mỹ, họ bắt đầu phản công, sau hai tuần đã giải tỏa thị xã. Tháng 8 -1972 chiếm lại tỉnh Bình Long, cuối tháng 6-1972 VNCH tấn công mặt trận phía bắc, hơn hai tháng sau ba Sư đoàn VNCH đã đẩy 6 Sư đoàn BV ra khỏi Quảng Trị. Quân đội CSBV bị đánh tan nát, 75% xe tăng bị bắn cháy, cán binh CS tử thương khoảng từ 70 ngàn tới 100 ngàn người.
Thất bại trong cuộc tổng công kích , BV phải ngồi lại vào bàn hội nghị. Hiệp định Paris được ký ngày 27-1-1973 tại khách sạn Majestic. Sau Hiệp Ðịnh Ba Lê 27 tháng giêng 1973, Mỹ rút gần hết quân số chỉ còn lại một số rất ít tùy viên, cố vấn quân sự.
CHẤM DỨT DOMINO TẠI VN
Không những Hoa Kỳ rút quân mà còn cắt giảm quân phí cho cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam, quân phí giảm rõ rệt nhất là từ sau 1969: Năm 1965 người Mỹ chi tiêu 646 triệu, năm 1966 tăng 5 tỷ 8, năm 1967 tăng 20 tỷ, năm 1968 tăng 26 tỷ, năm 1969 tăng 29 tỷ năm 1971, 72 tụt xuống còn 12 tỷ.
Trận mùa Hè đỏ lửa 1972 là trận đánh lớn khốc liệt nhất kể từ sau 1965, BV đưa vào Quảng Trị khoảng 5, hoặc 6 sư đoàn, tai Kontum 2 sư đoàn, tại Bình Long An Lộc 3 sư đoàn tổng cộng 10 sư đoàn với xe tăng đại bác phòng không, hỏa lực rất mạnh. Hoa Kỳ đã yểm trợ VNCH tối đa để lấy ưu thế tại bàn hội nghị Paris, tổng cộng có150 máy bay B-52 tham chiến tại cả ba mặt trận và 20 tầu chiến gồm các khu trục hạm, tuần dương hạm để yểm trợ hải pháo tại chiến trường Quảng Trị. Tháng Ba 1972 có tất cả 4,237 phi xuất của Không Quân tại Nam VN, trong Tháng Năm đã tăng lên 18,444 phi xuất do khoảng 700 chiến đấu cơ và 150 pháo đài bay B-52. Ngoài ra Mỹ còn yểm trợ vận chuyển bằng trực thăng và máy bay C-130, sau này theo tiết lộ của Đại Tướng Cao Văn Viên nếu không có yểm trợ của Không Quân và Hải Quân Mỹ VNCH có thể mất những tỉnh kể trên không hy vọng chiếm lại được. Mỹ muốn VNCH phải thắng để lấy ưu thế cho Mỹ tại bàn hội nghị để ký Hiệp Ðịnh Paris ngày 27 Tháng Giêng 1973. Ông Thiệu bị áp lực từ Nixon và Kissinger nặng nề trong việc ký và hiệp định Paris, để khai tử VNCH.
Mỹ lần lượt cắt giảm quân viện tối đa: năm 1973 hai tỷ mốt (2,1 tỷ), năm 1974 còn 1,4 tỷ, năm 1975 còn 700 triệu, đồng thời ra luật (tháng 8-1973) cắt mọi khoản ngân sách cho tất cả hoạt động quân sự tại Đông Dương. Người Mỹ quá chán chiến tranh Đông dương khiến chính phủ phải rút quân bỏ miền Nam VN, quốc hội Dân chủ cắt quân viện bỏ rơi VNCH.
Tháng 3-1975 BV được CS quốc tế viện trợ quân sự dồi dào dốc toàn lực tấn công miền Nam VN, toàn bộ lực lượng khoảng 20 sư đoàn. Phần vì thiếu thốn tiếp liệu, đạn dược chỉ còn đủ xài trong một vài tháng, phần vì Tổng thống Thiệu sai lầm cho rút bỏ Cao nguyên khiến miền Nam sụp đổ nhanh chóng vào ngày 30-4-1975.
Tổn thất các bên:
Hoa kỳ 58,193 người
VNCH: khoảng 200,000 người.
BV khoảng 1 triệu cán binh và Mặt Trận Giải Phóng khoảng 100,000 người.
Thường dân chết trong cuộc chiến được ước lượng khoảng 300,000 người, (các tài liệu không thống nhất).

Phí tổn trực tiếp (direct cost) của Hoa Kỳ được ước lượng vào khoảng 160 hay 150 tỷ đô la đồng tiền năm 1975 hay trong khoảng từ 666 tỷ đô la tới 900 tỷ đô la năm 2008 vì đồng tiền mất giá khoảng 6 lần. Phí tổn toàn bộ (final cost) khoảng 350 tỷ. Phí tổn toàn bộ chiến tranh Việt Nam các tài liệu không hoàn toàn thống nhất nhưng nói chung vào khoảng gần 300 tỷ. Tính tương đương với giá tiền ngày nay vào khoảng từ 1,000 tỷ tới 2,000 tỷ.
ĐOẠN KẾT VỀ THUYẾT DOMINO
Người Mỹ ký Hiệp Ðịnh Ba Lê với mục đích rút ra khỏi vũng lầy VN đồng thời trao đổi tù binh Mỹ. Quyền lợi chính của miền Nam không được chú trọng đến.” Một chuyên viên về du kích chiến, Sir R. Thompson, khi thảo luận về việc ký kết hiệp định Ba Lê đã viết, “Sự sống còn của miền Nam VN bị đe dọa chỉ vì để tránh cho nước Mỹ khỏi phải cấu xé nhau tan nát. Một điều trái ngược ở đây là miền Bắc VN bị bắt buộc phải ngồi vào bàn hội nghị tại Ba Lê không phải để tự cứu họ mà là để cứu nước Mỹ.” Vì lý do vừa kể nên mặc dù có quá nhiều khuyết điểm, Hiệp Ðịnh Ba Lê vẫn phải được phê chuẩn với bất cứ giá nào.” (Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 811)
Sau Hiệp Ðịnh Paris hơn nửa triệu quân Ðồng Minh đã rút đi, quân đội VNCH một mình phải gánh vác toàn bộ chiến trường với nhiều khó khăn thiếu thốn. Tháng Sáu 1973 Quốc Hội Mỹ biểu quyết cắt ngân khoản cho tất cả các hoạt động quân sự Mỹ tại Ðông Dương Việt-Miên-Lào, được áp dụng từ giữa Tháng Tám 1973 cấm hoạt động quân sự trên toàn cõi Ðông Dương. Tháng Mười 1973 Quốc Hội Mỹ ra đạo luật hạn chế quyền tổng thống về chiến tranh (Wars Powers Act), đòi hỏi tổng thống phải tham khảo ý kiến Quốc Hội trước khi gửi quân đi tham chiến. Cuối 1972 Hoa Kỳ rút hết quân sau Hiệp định Ba Lê, năm 1973 viện trợ quân sự cho VNCH xuống còn 2 tỷ 1, năm 1974 chỉ còn 1 tỷ 4, năm 1975 tụt xuống còn 700 triệu trong đó kể cả ngân khoản để trả lương cho nhân viên DAO Hoa Kỳ. So với 29 tỷ năm 1969 quân phí cho chiến tranh VN chỉ còn 2%.
Theo Đại tướng Cao Văn Viên (Những Ngày Cuối Của VNCH trang 86, 87, 92), hậu quả của cắt giảm quân viện khiến cho Không Quân VNCH phải giải tán hơn 200 phi cơ chiến đấu, oanh tạc, vận tải thám thính, giảm giờ bay thực tập và yểm trợ, yểm trợ giảm 50%, vận chuyển trực thăng giảm 70%, không vận bằng vận tải cơ bị cắt giảm 50%. Hoạt động Hải Quân bị cắt giảm 50%, hoạt động từ Tháng Bảy 1974 ở sông ngòi giảm 70%, giải tán 600 giang thuyền. Từ Tháng Bảy 1974 quân đội chỉ sử dụng khoảng 19 ngàn tấn đạn một tháng so với 73 ngàn tấn một tháng thời gian trước đó, hỏa lực giảm 60%. Vào Tháng Hai 1975, số lượng đạn tồn kho của tất cả các loại súng trường, phóng lựu, súng cối, đại bác, lựu đạn tuột xuống con số nguy hiểm, chỉ còn đủ sử dụng từ 25 đến 31 ngày. Tháng Tư 1975, đạn tồn kho ở bốn kho dự trữ tuột dốc xuống mức thấp nhất chỉ đủ xài từ 14 đến 20 ngày. Kể từ sau Hiệp Ðịnh Paris VNCH không còn trông cậy vào yểm trợ của B-52 nữa.
Kissinger nói Mỹ quá lý tưởng để đặt chính sách của mình trên quyền lợi quốc gia, ông đã tô vẽ cho sự can thiệp của Mỹ vào VNCH một cách gượng gạo, thuyết Domino đã một thời thúc đẩy Hiệp chúng quốc từ người dân đến lập pháp, hành pháp vào con đường bảo vệ quyền lợi cho chính đất nước của họ chứ chẳng phải vì một lý tưởng nào. Nếu Mỹ vào VN vì lý tưởng dân chủ hóa, bảo vệ tự do độc lập cho VN thì tại sao họ đã không được các đồng minh Anh, Pháp ủng hộ và yểm trợ? Các đồng minh này biết rõ Mỹ chỉ vì quyền lợi riêng của mình. Nếu vì lý tưởng dân chủ thì tại sao Hoa Kỳ không đem quân vào các nước độc tài CS như Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, Trung Quốc, Miến Điện… để biến các nước ấy thành một nước dân chủ tự do mà phải dân chủ hóa miền Nam VN?
Mỹ một đồng minh thiếu nhẫn nại trong một cuộc chiến tranh dài hạn, tại một quốc gia xa xôi, là nguyên nhân duy nhất đưa đến sự tàn lụi của VNCH. Cố gắng của chúng ta để cứu Miền Nam VN khỏi tay CS đã biến thành một sứ mạng mông lung kéo dài cho đến khi cử tri Mỹ quá mệt mỏi, chán nản và bắt đầu đi tìm một lý do để quên đi. Lý do trong trường hợp này là kết luận rằng Miền Nam VN không đáng được cứu vớt”. Hậu quả của học thuyết Domino là VNCH biến mất trên bản đồ thế giới, trong khi đó Lào Kampuchia và các nước khác vẩn tồn tại, chỉ có quân bài chủ của Domino là thiệt hại nặng nề.

Trịnh Khánh Tuấn tổng hợp 12/7/2016
ĐƯỜNG LƯỠI BÒ VÔ GÍA TRỊ
Phán quyết của toà trọng tài quốc tế PCA
Toà án quốc tế (PCA)

Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) ở The Hague (Hoà lan) vừa ra phán quyết lúc 11 giờ ngày 12/07/2016, không công nhận tính chất “lịch sử” của Tàu cộng đối với các đảo ở Biển Đông.

Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) là tổ chức liên chính phủ lâu đời nhất thế giới, chuyên xử lý các vụ tranh chấp quốc tế thông qua biện pháp trọng tài "và các biện pháp hòa bình khác".
PCA được thành lập năm 1899 trong Hội nghị Hòa bình Hague, do Sa hoàng Đệ nhị của Nga tổ chức. Cơ quan này dẫn chiếu tới các hợp đồng, các thỏa thuận đặc biệt, và nhiều hiệp ước khác nhau của Liên hợp quốc để phân xử tranh chấp.
PCA cũng hiện diện thường trực tại Mauritius, và có thể tiến hành các phiên tranh tụng trên toàn thế giới.

Trích đoạn phán quyết của Tòa:

Tòa đã xem xét tính hợp pháp của các hành động Trung Quốc gây ra tại Biển Nam Trung Hoa. Tòa nhận thấy một số khu vực nằm trong vùng kinh tế đặc quyền (EEZ) của Philippines, và theo tòa, Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của Philippines trong EEZ qua cách:

(a) Can thiệp vào công tác khai thác dầu khí và ngư nghiệp của Philippines,
(b) Xây dựng đảo nhân tạo, và
(c) Không ngăn các ngư dân Trung Quốc đến đánh cá trong EEZ này.
Tòa cũng nhận định rằng ngư dân Philippines có quyền đánh cá truyền thống (traditional fishing rights) tại Bãi Scarborough và Trung Quốc đã ngăn cản quyền của họ.

Tòa nhận định rằng các tàu hải tuần của Trung Quốc đã tạo ra một cách phi pháp rủi ro nghiêm trọng cho các vụ va đập khi họ thực hiện việc ngăn cản các tàu thuyền Philippines."

ảnh: 5 vị Thẩm phán tòa PCA trong vụ Biển Đông
Thẩm phán Jean - Pierre Cot của Pháp
Thẩm phán Stanislaw Pawlak của Ba Lan
Thẩm phán Thomas Mensah của Ghana
Thẩm phán Rüdiger WOLFRUM của Đức
Thẩm phán Alfred Soons của Hoà Lan



Huy hiệu của Tòa án Trọng tài Thường trực The Hague (Hòa lan)

Giáo sư Jonathan London thuộc Đại học Leiden (Hòa lan) nói với AP rằng phán quyết này sẽ cho phép các quốc gia nói với Trung Cộng: "Hãy nhìn xem, đây là kết quả của một tổ chức quốc tế đã phát hiện ra rằng yêu cầu của bạn là không có cơ sở lịch sử"


Các nhà báo tập trung bên ngoài Tòa án PCA vào sáng nay (AP Photo / Mike Corder)

Trong văn bản dài 497 trang, nói: 

"Đường chín đoạn" chạy có những chỗ cách xa Trung hoa lục địa tới 2.000km và vào sát bờ biển Philippines, Malaysia và Việt nam vài trăm cây số.
"Đường chín đoạn" mới xuất hiện trên một bản đồ của Trung Cộng năm 1947 với 11 đoạn đứt quãng, khi lực lượng hải quân của Trung hoa Dân quốc (Đài loan) khi đó kiểm soát được một số đảo do Nhật chiếm đóng thời Thế chiến thứ hai.


Tòa kết luận không có căn cứ pháp lý để Trung Cộng đòi quyền lịch sử với các vùng biển nằm trong “đường chín đoạn”.

Trước phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế lên án Bắc kinh. Tân ngoại trưởng Phi, ông Perfecto Yasay tuyên bố tại cuộc họp báo "Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên liên quan kiềm chế và tỉnh táo. Philippines khẳng định hết sức tôn trọng quyết định cột mốc này".


"Các chuyên gia của chúng tôi đang nghiên cứu phán quyết này cẩn trọng và triệt để bởi đó là kết quả quan trọng của tòa trọng tài".
Nguồn FB Bùi năng Phán:

Cuộc Sống Vươn Lên ghi lại 12/7/2016